LÀNG ĐANG NÓNG LÊN

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

CÁO LỖI CÙNG CÁC BẠN!

Các bạn thân mến!

Ngày 5-5-2011 này CẨM PHƯỢNG DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI mắc việc lên Hà Nội đến Bệnh viện Mắt Trung ương để khám lại và điều trị có thể phải phẫu thuật mắt trái vì cận nặng và thoái hóa thị lực. Do vậy sẽ vắng mặt một thời gian trên Blogs không thể tiếp tục đăng bài mới và tiếp xúc cùng các bạn được.

Giàu hai con mắt khó hai bàn tay!

Xin mọi người thông cảm! Hẹn gặp lại!

**************************************************

LÀNG ĐANG NÓNG LÊN

Bút ký của: DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

Yên Hưng quê tôi bên dòng Bạch Đằng giang lịch sử. Nơi đây là vùng đất cổ An Bang. Sinh ra trên vùng đất ấy tôi tự cảm đất đai là tấm áo xanh ngàn đời sông nước là cái chậu khổng lồ ru đắp và tắm gội cho những đời người  từ đó lớn lên.

I

Thuở xưa vùng đất này từng là dải rừng nguyên sinh. Từ cửa sông Bạch Đằng ngược lên phía bắc là cả một vùng non xanh thâm sâu cùng cốc chạy tới chân dãy Yên Tử. Từ vùng đồi Quỳnh Lâu Nguyệt Lĩnh (Cộng Hòa) Động Linh Thác Mơ (Đông Mai) Yên Lập (Minh Thành)… giáp lên Quảng La Vị Loại Tân Dân huyện Hoành Bồ… trùng điệp một sắc rừng đại ngàn thăm thẳm. Hai cây lim Giếng Rừng hơn bảy trăm năm tuổi ở thị trấn Quảng Yên còn sót lại sau chiến thắng Bạch Đằng 1228 là một trong những chứng tích của lịch sử và thiên nhiên rừng đại ngàn phủ An Bang.

Những năm cuối của thế kỷ trước vùng đất Yên Hưng còn xanh ngút ngàn những dải rừng đồi rừng ngập mặn xanh mướt mát những hàng cây dọc các ngả đường cùng những vườn tược ao chuôm các làng quê. Màu xanh cây cối miên man dưới tầm mắt và rợp mát trên đầu. Nhìn ra chỗ nào cũng thấy cây thấy màu xanh và thấy rõ hơi thở của cây phả vào mặt vào da thịt. Màu cây như bóng cha rủ xuống như lòng mẹ mở ra như tình em ôm choàng thân thiết. Cây là tấm áo ngàn đời nhân hậu suốt đời một con người!

Qua phố huyện Quảng Yên lên phía bắc chưa đầy 20 cây số một thời vào rừng Yên Lập còn nghe tiếng rừng lúc vang trầm hun hút lúc ngân lên vòi vọi của ngàn cây cao bóng cả suối ngập đèo hiểm. Người ta còn hãi hùng như có tiếng hổ gầm đâu đó vọng lên và có cảm giác ớn lạnh có thể bất ngờ một con hổ nhảy ra. Những người thợ sơn tràng đóng bè tre bè gỗ trẩy từng mảng vượt thác qua cửa rừng xuống bãi sông xuôi theo dòng Bến Giang Hoàng Tân rồi đổ ra cửa Cái Dâu Ba Đượng ngược sông Chanh về các miền quê Yên Hưng và đồng bằng sông Hồng. Theo thời gian và cuộc sinh tồn của con người màu xanh rừng như những chiếc lá rụng dần chuyển đổi thành hơi ấm hạt no cho các thôn mạc cánh đồng phố thị. Nhiều làng nghề đan lát như Yên Trì Hưng Học Cẩm La… hình thành và sống nhờ vào tấm áo ngàn đời đó của rừng.

Tới nay Yên Hưng còn gần 6.500 ha đất rừng 13 000 ha đất bãi triều và rừng ngập mặn nằm dọc các triền sông Bạch Đằng sông Rút sông Chanh… kéo dài ra tận cửa Cát Bà Nam Triệu tạo nên những tấm phên giậu chắn sóng biển khơi. Rừng ngập mặn cửa sông Bạch Đằng đầm Nhà Mạc Cống Vông Đầm Bầu… còn giữ được màu xanh nguyên thủy đến cuối những năm 1990. Những rặng lậu sú vẹt đan cành tỏa bóng dày bện. Chèo thuyền trên các lạch cái ta phải lấy sào gạt hoặc dùng dao rựa phát quang mới có lối để đi y như lạc vào vùng sông nước Cà Mau. Chim từng đàn bay trên đầu chao chát. Cư dân quăng chài thả lưới trên các dòng sông đặt đó giăng đáy cất vó đánh bắt cá tôm ngay dưới tán rừng. Các loài tôm cá cua ốc theo nước rặc trút xuống theo thủy triều dâng lên tấp vào các chân rừng lạch ngòi đẻ trứng.

Đầm nước nơi đây chẳng khác gì những cái chậu khổng lồ chứa đầy các loài thủy sản. Làng tôi nằm giữa những cái chậu khổng lồ và trong những tấm áo xanh ngàn đời đó. Gió ngoài biển Đông ngoài vịnh Bắc Bộ thổi qua những vùng mặt nước mặt rừng tiếp thêm độ ẩm vào những cánh đồng vào những ngôi làng làm không khí càng thêm mát rượi.

Vậy mà bây giờ… Tấm áo xanh ngàn đời đã và đang đứng trước nguy cơ bị giật khỏi cơ thể đất đai!

II

Cơn lũ cuộc sống mới đem công nghệ văn minh hiện đại về đổi mới cho nông nghiệp nông thôn. Người nông dân sẵn sàng và háo hức tiếp nhận sự phát triển như người lội bùn trong lạch ngòi được ra biển cả. Các miệt bãi lũng sông được ngăn chặn đào đắp khoanh vùng kẻ thửa thành những ô đầm lớn nhỏ để nuôi trồng thủy sản. Một thời người ta nuôi quảng canh để cả rừng ngập mặn che phủ và lấy giống tôm cá từ các con nước thủy triều. Đầm thủy sản các làng xã Liên Vị Phong Cốc Yên Hải… liên tiếp các mùa tôm bội thu. Cuộc sống cư dân đổi mới hẳn lên. Nhiều gia đình đổi đời trở nên giàu có nhờ con tôm con cá con cua con ngán và rau câu. Sau nghe thiên hạ dâng lên phong trào nuôi trồng theo phương pháp công nghiệp bằng nguồn giống cho đẻ nhân tạo… các ông chủ đầm ồ ạt chặt phá hàng loạt sú vẹt trang đước để giải phóng mặt nước thoáng đãng. Đầm nuôi trồng thủy sản với thủy diện phẳng lỳ như tấm gương chói chang ánh nắng mặt trời thiêu đốt. Các loại thức ăn công nghiệp đạm lân thuốc phòng chữa bệnh thuốc trừ cỏ… ném xuống. Nguồn thủy sinh bị tiêu diệt. Môi trường lập tức bị ảnh hưởng ô nhiễm. Con tôm con cá không có bóng râm trú ngụ. Rêu đất rong biển rau câu tàn lụi không mọc lại được. Các đầm Liên Vị Phong Cốc Yên Đông Hải Yến… trước đây sau thu tôm cá còn trông thêm vào thu hoạch rau câu nay nguồn thu này hoàn toàn cạn kiệt và mất giống.

Do quá trình tiếp nhận khoa học công nghệ đầu tư cơ sở vật chất thiếu đồng bộ như kỹ thuật điện nước dự báo thời tiết bảo quản tiêu thụ… cùng với ý thức trình độ của người nuôi trồng yếu kém chủ yếu dựa vào kinh nghiệm đã dẫn đến nhiều dự án nuôi tôm công nghiệp bị đổ bể. Những vụ nuôi trồng mất mùa nối theo nhau. Nhiều năm gần đây tôm cá chết hàng loạt có nơi thối hết cả đầm. Nhiều chủ đầm vỡ nợ. Nhiều chủ đầm đã tính chuyện chuyển đổi buôn đi bán lại đầm áng hoặc bỏ nghề. Đầm áng- những chiếc chậu khổng lồ vắng bóng rừng ngập mặn che phủ thì hằng ngày vẫn đang bị đun nóng dưới ánh mặt trời!

Trong các làng xã đường trải bê tông trải nhựa đến tận ngõ xóm. Nhà cao cửa rộng tường xây ngói đỏ san sát mọc lên chen chúc nhau lấn át không gian quê kiểng. Con đường cái quan phía tây Hà Nam từ Bến đò Chanh cũ xuống xã Liên Vị đoạn qua các làng Hưng Học Hải Yến Yên Đông Trung Bản Lưu Khê hai bên xanh rợp bóng dừa nên dân ở đây thường gọi là “Đường dừa”. Là người Hà Nam đi xa không ai là không nhớ hình ảnh con đường dừa thơ mộng dễ liên tưởng tới rừng dừa miệt vườn Nam Bộ. Đường dừa thân thiết là thế cũng bị chặt tỉa xơ xác. Khi đường mới nâng cấp trải nhựa thì cũng là lúc cây dừa vắng bóng. Làng mất đi một luồng sinh quyển.

Trước đây đi trong làng cứ ngỡ đi dưới không gian rừng đồi ẩm ướt. Cả khu xóm tôi chỉ thấp thoáng vài nóc ngói dưới cơ man những bóng cây. Tuy nhà cửa thấp lè tè mà giữa mùa hè vẫn thấy mát mẻ mùa đông vẫn ấm cúng. Nhà nọ thông nhà kia chỉ bằng giậu cây râm bụt cây thuốc dấu rặng đỗ ván leo… Mái nhà mái ngõ lợp rơm rạ gianh nứa gianh tre. Sân nhà chỉ nện bằng đất sét phơi hong khoai lúa. Xung quanh nhà là lũy tre bờ cây xương rồng mây gai… bao bọc. Giàn mướp rắc hoa vàng. Giàn bầu buông quả. Cây dừa tỏa bóng. Cây ổi xòa xuống mặt ao. Cây cau thả hương vào buổi sớm hạ sang. Cây mít đơm trái lúc lỉu như lưng mẹ cõng đám con thơ. Những ruộng rau cần xanh mướt. Những bè rau muống lan ngọn suốt tháng ba sang tháng tám đỡ lòng nhà nông qua những cơn đói quắt queo.

Vậy mà bây giờ… Tất cả đang dần biến mất khỏi cảnh quê. Phố nhập hồn làng kéo dài mỗi ngày thêm một khúc. Làng theo nhau hóa phố. Cây lưu cựu hàng đời bị đốn chặt. Dân chúng đua nhau bám đất mặt đường. Nhà nhà ngăn cách bởi tường cao cổng kín. Nhà tầng như nấm với cửa gỗ đắt tiền cửa kính gương phản hoa mờ. Bếp đun rơm rạ củi cành thùng trấu ổ rơm giường gỗ chõng tre chiếu cói… dần dần lui vào quá vãng. Thay vào đó là bếp than bếp điện bếp ga chiếu nhựa giường nhôm đệm mút… Nông cụ cày bừa mai cuốc gầu sòng gầu dai… bao đời gắn bó bỗng thành củi đốt hóa giải kiếp “con trâu đi trước cái cày theo sau”. Tiếng máy cày máy lồng chạy ào ào ruộng đất. Xe máy công nông ô tô tung bụi mù mịt đường làng. Nhà tầng quạt điện tủ lạnh máy giặt máy điều hòa nhiệt độ… vô hình dung đã và đang hấp dẫn là mơ ước mục tiêu phấn đấu và thước đo của một nền kinh tế hộ gia đình. Nhiều người bắt đầu xu hướng hưởng thụ cốt lo “lên đời” xe máy sắm ô tô xe con đi đây đi đó hoặc làm vận tải cho nhẹ nhàng thoát cảnh chân lấm tay bùn. Người nông dân đã hân hoan trong trào lưu được đổi đời như thế! Họ không còn mấy thiết tha với ruộng đất cây trồng vật nuôi; không tỏ ra tiếc nuối màu cây xanh muôn thuở muôn đời.

Làng đang nóng lên như vậy! Liệu đây có thể là niềm vui mừng quá sớm?

III

Ngày xa ấy trước ngôi nhà cổ của gia đình tôi là một cánh đồng ngút tầm mắt. Thảm lúa mênh mông trải từ chân làng tôi chạy tít tắp tới tận bên kia chân làng Yên Đông Hải Yến Hưng Học… Mỗi sớm mai thức dậy mỗi hoàng hôn buông xuống mùi bùn mùi cỏ mùi rơm rạ ngai ngái rồi hương lúa trổ đòng hương lúa chín thơm thoảng ngát vào sân khiến tôi cứ đứng hồi lâu ngây ngất. Gió nồm nam từ biển thổi qua cánh đồng được hương lúa quyện vào lắng lọc. Bầu trời càng thêm mát lành trong trẻo.

Bây giờ cánh đồng ấy đã chấm dứt. Tấm thảm xanh cuốn lại như một giấc mơ vừa tan. Sau cái thời lò ngói lò gạch thi nhau tỏa khỏi đất đai bị đào khoét nung đốt không chỉ lúa bị táp lá nghẹn đòng mà cây cối trong các mảnh vườn cũng bị héo rũ. Đất đai trơ gan cho cỏ dại. Tiếc đất người nông dân lại cuốc xới khẩn hoang   cấy trồng từng vạt lúa rau màu. Giờ thì các khu dân cư lại lấn nống nham nhở ra cánh đồng. Những dải sông ngòi những cây cầu gỗ cong nhịp cầu vồng cùng những cây đa bến nước bị san lấp trong chớp tay. Ngôi nhà cột gỗ ngói cổ của gia đình tôi cũng lọt thỏm dưới không gian nghễu nghện nhà mái bằng nhà cao tầng lòe loẹt tường sơn lấp lánh gạch men. Xế ngoài kia nghĩa địa ngổn ngang mồ mả xây bằng gạch vữa bê tông ốp lát đủ kiểu đủ màu.

Tiết thanh minh vừa qua tôi và Hưng hai chú cháu đi tạ mộ cụ ngoại. Cụ sinh ra mẹ tôi và bà nội của Hưng. Trước đây mộ cụ nằm cạnh bờ của thửa ruộng bẩy sào trên cánh đồng Thượng Đồng thẳng cánh cò bay. Khi chưa vào HTX thửa ruộng này là của nhà tôi. Mẹ tôi thường cấy lúa tám đồng lúa nếp. Mùa trỗ bông lúa cao lút mặt. Tôi thường theo mẹ ra đồng thăm lúa. Phấn lúa bay trắng vai áo đầu tóc. Lúc hóa ruộng công HTX mộ bà tôi bị xã viên làm ruộng cuốc vạc mỗi lúc một ít nên hao mòn và bé dần như một nấm cỏ bỏ quên.

Sang thời kỳ khoán quản ruộng lại chia về tay người khác thuộc làng Phong Cốc. Rồi khu đồng này người ta quy hoạch thành nghĩa trang đặt mộ hung mộ cát. Mộ bà ngoại tôi lẫn vào ruộng đất thiên hạ lúc nào không biết. Mùa thanh minh năm ấy mẹ con tôi phải tìm dọc tìm ngang thậm chí phải đào bới rất lâu mới thấy được chiếc chai và đám vỏ ốc đẽ do mẹ tôi một lần chôn xuống cạnh mộ để đánh dấu phòng xa. Vài năm sau mỗi năm một khác. Mộ mọc lên như mơ như từ trên trời có bàn tay vô hình cẩu hạ xuống loang ra thu hẹp tấm áo xanh của cánh đồng bao thuở. Người ta đổ sức đổ tiền ra tậu đất chiếm chỗ và xây cất. Mộ lớn mộ nhỏ nhấp nhô đua nhau muôn kiểu dáng. Những cây si cây duối bị chặt hạ đào triệt tận gốc. Cỏ hoang bị bóc đi chỉ để vài gang tấc trong ô cắm nhang. Nhà người chết bỗng hiện đại với tốc độ nhanh chóng mặt. Chỉ vòng chục năm nay khu nghĩa trang Phong Cốc đã như một thành phố  người Thiên cổ.

Lo sợ mất mộ bà ngoại sau chuyến “tham quan thành phố Thiên cổ” về năm sau chúng tôi cũng phải khẩn cấp xây lại mộ để khỏi hổ thẹn với vong linh. Nhưng chúng tôi chỉ làm nhỏ khiêm tốn không dám đu dù đu kiệu.             

Bước vào nghĩa trang chú cháu tôi tưởng lạc vào một tòa thành hiện đại và hoang vắng không bóng cây xanh. Cả nghĩa trang là một không gian bức sốt bởi những hình khối. Nắng ong ong nhức mắt muốn rang lên. Gió phả hơi nóng hừng hực như từ Hỏa Diệm sơn táp vào mặt mũi. Tôi giơ tay đón gió: Rõ ràng gió từ biển thổi vào mà sao nực nội ghê người? Anh cháu tôi giải thích như một nhà khoa học: Vào được đến nơi mình đứng đây thì gió đã bị làm nóng do bao nhiêu khối gạch vữa bê tông kia tỏa nhiệt dưới nắng đốt cháy hết o xy rồi ông ạ! Đây mới là một nghĩa trang Phong Cốc chưa nói đến cả vùng Hà Nam ta giờ có tới mười mấy nghĩa trang rồi cả huyện Yên Hưng cũng có mấy chục… đều “phát triển hiện đại” thế này!

Không trách mặt đất quê mình bây giờ cũng đang nóng lên!

Làng tôi đang góp phần cho Trái Đất nóng lên!

Như để chứng minh cho một sự thật hiển nhiên những cơn gió nóng lại vột lên như từ Hỏa Diệm sơn táp vào mặt.

2-5-2011

 

More...

THÔNG BÁO VỀ VIỆC THÀNH LẬP QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG & CUỘC SỐNG

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

--- ›¯š ---

THÔNG BÁO VỀ VIỆC THÀNH LẬP
 QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG & CUỘC SỐNG

I. MỤC ĐÍCH THÀNH LẬP QUỸ

Thực tiễn hiện nay cho thấy các nhàvăn nhà thơ (gọi chung là nhà văn) gặp không ít khókhăn trong quá trình cho ra đời và đưa tác phẩm của mình đến vớiđông đảo bạn đọc. Quỹ Hỗ trợ Văn chương & Cuộc sống được thành lập với mong muốn chia sẻ với các nhà văn trong cuộc sống cũng như trong quá trình đưa tác phẩm của mình đến với những bạn đọc thực sự yêu quý và trân trọng văn chương Việt Nam.

II.NHIỆM VỤ CỦA QUỸ

1- Hỗtrợ cho việc xuất bản tác phẩm

Trong cơ chế thị trường hiện nay các nhà văn phải chịu nhiều thiệt thòi cả đời sống vật chất lẫn tinh thần. Tác phẩm của họ muốn đưa được ra thị trường phải đáp ứng được nhiều mặt như:

+ Đạt được chất lượng nghệ thuật

+ Tìm được đối tác liên kết;

+ Phải bỏ vốn đầu tư để in ấn

+ Phải tìm được kênh phát hành tác phẩm

Khắc phục những khó khăn đó giúp nhà văn được Quỹ Hỗ trợ Văn chương & Cuộc sống lấy làm phương châm hành động hàng đầu. Quỹ sẽ chung tay tháo gỡ một phần những khó khăn nêu trên để tác phẩm của mỗi nhà văn nhanh chóng kịp thời đến với bạn đọc.

Tác phẩm được hỗ trợ cần đáp ứng 2 yêu cầu:

- Tác phẩmđạt chất lượng nghệthuật vàvăn chương được thông qua bởi Hội đồng thẩm định của Quỹ.

- Tác giảđang gặp khókhăn vềkinh tếkhông thể tự lo in được tác phẩm của mình

2. Hỗtrợ về cuộc sống

Các nhà văn đã thành danh trong sự nghiệp văn chương hiện tại trong cuộc sống gặp nhiều khó khăn như: Kinh tế thiếu thốn nghiêm trọng bệnh tật hiểm nghèo hoặc tai nạn bất ngờ…

Quỹ sẽ chung tay góp sức cùng các tổ chức xã hội và nghề nghiệp khác hỗ trợ để nhà văn nhanh chóng vượt qua những khó khăn hiện tại trở về với cuộc sống thường nhật của mình.

III. CƠ CẤU CỦA QUỸ

1-Chủ tịch Quỹ: Nhà Thơ Bành Thanh Bần

2- Phó Chủ tịch kiêm Thủ quỹ: Bà Đinh Thị Thuận

3- Các thành viên:

- Ông Bành Anh Tuấn

- Nhà thơ Chử Thu Hằng

- Bà Khánh Linh

4- Các đơn vị liên kết:

- Trang Website Lucbat.com

- Trang Website Trannhuong.com

- Trang Website Phongdiep.net

Các thành viên và đơn vị liên kết tham gia Quỹ có trách nhiệm và quyền lợi:

- Đăng tin quảng bá cho các hoạt động của Quỹ

- Giới thiệu phát hiện tác giảtrong diệnđề nghịQuỹhỗtrợ

- Tham gia hộiđồng bình xét các tác phẩm cần hỗtrợ và tác phẩm dự thi do Quỹ tổ chức.

IV.HÌNH THỨC TỔ CHỨC QUỸ

- Quỹ do nhà thơ Bành Thanh Bần sáng lập. Hàng năm các công ty thành viên sẽ góp số tiền là: 300.000.000đ (Ba trăm triệu VNĐ) để Quỹ duy trì hoạt động. Con dấu vàTK củacông ty TNHH Du lịch & Thương mại Cường Thịnh được tạm thời sử dụng làm con dấu và TK của Quỹ .

- Quỹ kêu gọi và hoan nghênh các tổ chức cá nhân tham gia Quỹ.

- Khi cóthêm thành viên tham gia hỗtrợvốn sẽtiến hành thành lập Quỹtheo quy định của pháp luật.

V. PHƯƠNG THỨC HOẠTĐỘNG CỦA QUỸ

1- Các tác giả là Hội viên HNV Hội viên HVHNT các tỉnh nhận thấy tác phẩm của mình đủ tiêu chuẩn trong diện được Quỹ hỗ trợ có thể đăng kí và gửi tác phầm của mình về Quỹ.

Các tác phẩm của các tác giả đã được Hội Nhà văn và Hội LHVHNT các tỉnh cấp kinh phí hỗ trợ không nằm trong diện được Quỹ xem xét.

2- Quỹ sẽ lần lượt đăng tải tác phẩm của các tác giả trên Website của Quỹ đồng thời chuyển tiếp các tác phẩm này đến các Website của các đơn vị liên kết các thành viên trong hội đồng thẩm định để các thành viên đều được tiếp cận với tác phẩm của các tác giả giúp cho phần xét duyệt được chính xác.

3-Hộiđồng thẩmđịnh bao gồm các thành viên của Qũy cónhiệm vụ giới thiệu các tác phẩm và tác giả phù hợp với tiêu chí và mục đích của Quỹ. Ba tháng một lần hội đồng thẩm định sẽ họp xét duyệt bỏ phiếu kín và lập danh sách những tác giả và tác phẩm đã được duyệt bằng văn bản.

4- Sau khi thẩm tra Quỹ sẽ ra quyết định mức hỗ trợ và hình thức hỗ trợ đồng thời thông báo trên Website của Quỹ để các tác giả và độc giả biết.

5- Hàng năm Quỹ sẽ tổ chức các cuộc thi theo từng thể loại: Thơ Truyện ngắn Tiểu thuyết… Mỗi cuộc thi sẽ mời thêm các Nhà văn nhà lý luận phê bình có uy tín thẩm định chọn ra tác phẩm xứng đáng để trao giải góp phần tôn vinh lao động nghệ thuật của các tác giả. Tác phẩm đoạt giải sẽ được Quỹ giới thiệu và phát hành giúp tác giả thu lại một phần kinh phí đây là điểm nhấn thể hiện tinh thần nhân văn nhân bản của Quỹ.

6- Việc hỗ trợ cuộc sống cho các Nhà văn đang gặp khó khăn bệnh tật hiểm nghèo hoặc tai nạn bất ngờ… như đã nêu trên sẽ được tiến hành thường xuyên trên cơ sở nhất trí cao trong các thành viên Quỹ.

VI. TRỤ SỞ GIAO DỊCH CỦA QUĨ

Trụ sở chính: Khu du lịch sinh thái Hồ Tiên Sa – Ba Vì – Hà Nội

Điện thoại: (043) 3881.593 – Fax: (043) 3930.888

Website: banhthanhban.com

Giao dịch thường trực:

1/ Nhà thơ Bành Thanh Bần. Tel: 0913.297.236

Email: banhthanhban@gmail.com

2/ Nhà thơ Chử Thu Hằng. Tel 01663332171

Email: nguoibinhthuong1957@yahoo.com


Hà Nội ngày 26/4/2011

Chủ tịch Quỹ
Bành Thanh Bần
______________________
*Thông báo này được đăng tải trên Website của Quỹ và Website của các đơn vị liên kết.
* Danh sách các tổ chức và cá nhân đăng kí tham gia và hỗ trợ Quỹ sẽ được thông báo cập nhật trên Website của Quỹ và của các đơn vị trên.
* Đ rõ thêm chi tiết mời truy cập vào website của Quỹ: banhthanhban.com

HỎI CHUYỆN NHÀ THƠ BÀNH THANH BẦN VỀ QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG & CUỘC SốNG

Bài do Nhà văn Trần Nhương thực hiện lấy từ nguồn trannhuong.com

 

 

TNc: Nghe nói trong chuyến du hành Phương Nam đầu xuân ông đã đến thăm nhiều nơi danh lam thắng cảnh và thăm nhiều nhà văn nhà thơ đang gặp những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…

 

 

 

BTB: Trong chuyến du xuân vừa qua thực chất là đi khảo sát tình hình từ Hội An trở ra chúng tôi đã gặp gỡ và nghe tâm tư nguyện vọng của một số người. Tôi cứ nghĩ: Là một doanh nhân được thừa hưởng những thành quả tốt đẹp xã hội đem lại kinh tế đã ổn định nhà có của ăn của để mình nhất định phải làm một việc gì đó để chia sẻ với họ dù là nhỏ bé. Và ý tưởng thành lập Quỹ Hỗ trợ Văn chương & Cuộc sống được hình thành

TNc: Ông có thể cho biết mục đích nội dung chính hoạt động của Quỹ này

BTB: Có hai mục đích:
1- Hỗ trợ về văn chương: Những nhà văn nhà thơ nào có tác phẩm đạt chất lượng văn chương và nghệ thuật nhưng không có tiền in tác phẩm Quỹ sẽ hỗ trợ từ A-Z để tác phẩm được nhanh chóng ra đời
2- Hỗ trợ về cuộc sống: Những nhà văn nhà thơ đã thành danh trong sự nghiệp văn chương hiện tại đang gặp khó khăn như: kinh tế thiếu thốn nghiêm trọng; bệnh tật hiểm nghèo; tai nạn bất ngờ… Quỹ sẽ chung tay góp sức cùng với các tổ chức xã hội và nghề nghiệp khác hỗ trợ để họ nhanh chóng vượt qua những khó khăn hiện tại trở về với cuộc sống thường nhật của mình.

TNc: Xin ông cho biết nguồn vốn huy động từ đâu để duy trì hàng năm cho Quỹ này hoạt động?

BTB: Tôi hy vọng nguồn vốn sẽ rất dồi dào do sự chung tay góp sức của các doanh nhân và những người yêu mến văn chương. Để có vốn ban đầu cho Quỹ chính thức đi vào hoạt động tôi đã vận động vợ tôi các con tôi đều là những chủ doanh nghiệp chung tay góp sức cho Quỹ sớm đi vào hoạt động. Cả nhà đã ra “nghị quyết”: Mỗi năm sẽ hỗ trợ Quỹ 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng)
Và chỉ tiêu đặt ra là: Năm sau phải tăng hơn năm trước 20%

TNc: Xin hỏi nhỏ ông : Việc ra “Nghị quyết” có thuận chèo mát mái không? Có đạt tỷ lệ nhất trí 100% không?

BTB: Đều nhất trí 100 %. Cả nhà cười ha hả nhất là vợ tôi.
Được tin Quỹ sẽ thành lập nhiều người đã hăng hái đăng kí tham gia. Có người góp 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) mỗi năm. Số người là CBCNV chức đăng kí góp 1.000.000đ thì rất nhiều. Có bạn ở nước ngoài có bạn ở TP HCM có người ở ĐTH tỉnh Tiền Giang cũng điện ra hỏi quy chế và xin đóng góp… Nhiều đơn vị và cá nhân trở thành thành viên của Quỹ như: Trang Website Lucbat.com.Trang Trannhuong.com Trang Phongdiep.net là thành viên chung tay góp sức để Quỹ của chúng ta “Đi trên con đường thênh thang rộng mở…” như một câu hát vẫn thường vang lên trong lòng mỗi chúng ta!

TNc: Xin chúc mừng thành công bước đầu của ông và Quỹ do ông sáng lập.
Ngày khai trương Quỹ chắc ông sẽ tổ chức trên Khu du lịch sinh thái Hồ Tiên Sa của ông và tôi tin sẽ bộn hoa của quan khách và báo chí đến chúc mừng?

BTB: Thú thật với ông tôi rất ngại quảng cáo rùm beng việc thiết thực nhất là làm thế nào để giúp đỡ ngày càng nhiều cho các nhà văn nhà thơ của chúng ta. Quỹ còn nghèo để khi nào thành công thật rực rỡ mời ông và mọi người đến chia vui cũng chưa muộn ông ạ!

TNc(đùa): Ông đúng là người… bần tiện…

BTB: Thì vưỡn. Thanh Bần mà. Tôi mong Trang TNc sẽ đưa tin thông báo ngày thành lập Quỹ trên trang Trannhuong.com của ông để mọi người được biết.

TNc: Tôi rất sẵn sàng vì nghĩa cử chung của chúng ta .Chúc Quỹ sớm đi vào hoạt động và hoàn thành mục tiêu rất nhân văn đã đặt ra.

 

 

Ngày 21/4/2011
Bài do Nhà văn Trần Nhương thực hiện lấy từ nguồn trannhuong.com



 

 

More...

TA ĐANG ĐI VỀ PHÍA CÁNH ĐỒNG XƯA

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

TA ĐANG ĐI VỀ

PHÍA CÁNH ĐỒNG XƯA

alt 

Nơi ấy ẩn giấu những vỏ sò vỏ vạng

Những tia nước vàng cua dưới tầng sâu sú vẹt

Những vỉa bùn hằn dấu những bàn chân

Những hạt lúa cổ găm trong lớp cỏ mục

Nghe vầng trăng tan trong nhịp gầu ai múc

Đôi tay trần nghiêng nửa trời đêm.

 

Nơi ấy cánh đồng rất đỗi bình yên

Hạt đa con chim xanh nhả ra từ thời ông nội

Ông nội về trời

Còn bóng đa thì trùm xuống bến sông

Nơi ấy ngôi nhà cơm tấm ổ rơm

Tiếng chày giã gạo nện canh khuya thậm thịch

Chiếc chõng tre ken bằng sợi mây cổ tích

Nắm ngô rang thầm thì tay ải tay ai.

Nơi ấy có cái tổ tò vò gắn bên hốc cột

Chiếc bình vôi sứt miệng cũ theo mùa hoa cau

Quả bầu rụng rốn ngoài ao

Bà nội nhai trầu quệt làn môi cắn chỉ.

Chiếc chum sau hè nung từ nắm đất

Lắng lại những cơn giông…

Mọi thứ si mê khờ khạo

Một thời ta đong vào đó

Ngỡ trong tay được cả bầu trời

 

Tất cả cất lên từ truyền thuyết!

Hắt ánh sáng vào cánh buồm

Ta miên man theo dòng sông khát vọng

Cánh đồng mẹ cha sương trắng giăng mờ...

Khi đã ngấm nỗi đau những tích chèo em diễn

Ta bàng hoàng trước mảnh vườn xao xác nắng thu

Ai đem đi đâu mùi thơm trái thị đầu mùa

Chiếc hài cô Tấm hình như đã chìm xuống đáy giếng

Hoa xoan đào tắt đốm lửa dưới mưa…

 

Hành trang gió đưa

Đựng bao niềm nuối tiếc…

Ta đang đi về phía cánh đồng xưa!

                            18-4-2011

More...

BAY LÊN KHÁT VỌNG BẠCH ĐẰNG

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

altBAY LÊN KHÁT VỌNG BẠCH ĐẰNG

LÊ DUY THÁI

Buổi sáng trong Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ 24 tổ chức vào ngày 29-3-2011 trên bầu trời Hạ Long lấp lánh bay lên những chùm thơ chọn những câu thơ hay của các tác giả xưa và nay của tỉnh Quảng Ninh. Trong đó có “Chùm thơ Bạch Đằng Giang” của 5 tác giả thơ Hội VHNT Yên Hưng. Đó là những câu thơ chọn lọc như thả lên một khát vọng Bạch Đằng!

Bạch Đằng- dòng sông lịch sử chở bao nhiêu chiến tích bao nhiêu thương đau bao nhiêu vui buồn sướng khổ của kiếp người. Chính nó đã là một cội nguồn của sáng tạo thi ca nhạc họa văn chương vô tận. Nó là cảm hứng sáng tạo trời cho không bao giờ vơi cạn.

Trong bài thơ “Trước Sông” Dương Phượng Toại viết:

Dặm dài muôn nỗi nắng mưa

Sông là nghiên mực trời vừa ban cho.

Hình ảnh nghiên mực trời vừa ban cho là hình ảnh vừa cổ kính vừa hiện tại mới mẻ. Dòng sông như chiếc nghiên mực không vơi cạn cho muôn đời sôi kinh cho muôn ngọn bút chấm xuống để lấy lên cảm xúc văn chương nghệ thuật viết vào trang đời. Ngọn bút của thi nhân có chấm bao nhiêu cũng không thể hết được nguồn mực của dòng sông đời người. Câu thơ gợi nhớ về bài thơ tứ tuyệt của Trần Thánh Tông khi vua đi “Chơi phủ An Bang”: Thơ tuôn ngọn bút dạt dào thêm

Yên Tử-nơi phát tích  Thiền phái Trúc Lâm Việt nam. Đạo tách đời đạo là “màu xám”. Đạo gắn đời đạo “mãi mãi xanh tươi”. Tốt đời đẹp đạo đạo trường xuân tươi trẻ. Lịch sử là nhân. Hiện tại là quả.. Nhân đẹp thì quả đẹp đẹp mãi vô cùng. Nguyễn Trãi viết: “Dấu cũ Nhân tôn còn mãi đấy / Trùng đồng soi mãi ánh quang minh”. Nương theo tiếp nối khát vọng xưa Lê Duy Thái mong muốn:

“Trúc xanh như thuở còn vua Phật

Má ửng chiều xuân tiểu dắt tay”

Đạo mà có mùa xuân có tuổi trẻ là đạo trường. Đạo ấy có đời thường có hạnh phúc nhân quả có tương lai tươi sáng.

Tình yêu cuộc sống luôn cho ta cảm giác mọi vật bình thường xung quanh như quen như lạ vừa cũ vừa mới. Nó nuôi dưỡng ý thức phát hiện sáng tạo. Cái đẹp bình thường với thi ca không bao giờ vơi cạn. Lê Hữu Lịch viết khá hay:

Chén nhỏ trong tay dường như cạn

Uống mãi mà sao nguyệt vẫn đầy!

Chén rượu trong tay là vật chất thi sĩ ngấm men say uống vào lại rót rót vào lại uống đã dường như cạn. Mà ánh trăng như một hình ảnh của tinh thần của hồn thơ… không cạn mãi vẫn đầy. Cảm hứng thơ cảm hứng đời dâng tràn hồn thi sĩ dưới đêm trăng bên dòng sông đầy ắp sử thi...

Lê Tín nói lên khát vọng tâm hồn nghệ sĩ băn khoăn khắc khoải mê tỉnh cần cù tìm tòi để đi tới chân thiện mỹ mà chưa bao giờ đạt tới đỉnh. Kiếp con người như dòng sông chảy hoài. Sự sáng tạo của con người chưa bao giờ là đủ. Không có chân lý cuối cùng. Câu thơ như một minh triết trái tim hướng về cái đẹp:

Nhặt mãi chưa đầy vùng thức tỉnh

Thiếu cái gì đây của kiếp người!

Hòn Đũa trên vịnh Hạ Long đơn côi giữa bao la trời biển. Vũ Hữu Thỉnh chợt phát hiện ra biểu tượng của khát vọng yêu thương đoàn tụ kết đôi… của con người của muôn thuở. Câu thơ tả cảnh tả tình đẹp”

Chờ ai giữa trời xanh biển biếc

Bao năm rồi mà đũa chẳng thành đôi?

Thơ Bạch Đằng giang trong lịch sử đã đạt đến đỉnh cao về khát vọng anh hùng tài đức vẹn toàn chiến công hiển hách của người xưa của đất nghĩa dân. Lũ hậu sinh bây giờ tài mọn biết viết gì đây? Còn đấy sông Bạch Đằng chở đầy khát vọng: Văn hóa sống văn hóa yêu văn hóa hòa bình xây dựng và hội nhập. Đó là “Của kho vô tận biết ngày nào vơi”.

Trong không gian mênh mông vi diệu trong trầm tích thẳm sâu linh thiêng của Bạch Đằng giang “Chùm thơ Bạch Đằng giang” bay trên bầu trời vịnh biển Hạ Long là một tia nắng nhỏ lấp lánh trong bụi mưa xuân ấm áp.

         8-3 Tân Mão  

alt

CHÙM THƠ BẠCH ĐẰNG GIANG

 HỘI VHNT YÊN HƯNG

THẢ  TRONG NGÀY THƠ QUẢNG NINH

 

1. Dặm dài muôn nỗi nắng mưa

Sông là nghiên mực trời vừa ban cho!

DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

(Trong bài TRƯỚC SÔNG) 

2.Trúc xanh như thuở còn Vua Phật

Má ửng chiều xuân tiểu dắt tay.

       LÊ DUY THÁI

(Trong bài LÊN CHÙA )

 

3.Chén nhỏ trong tay dường như lạ

Uống mãi mà sao nguyệt vẫn đầy

                  LÊ HỮU LỊCH

         (Trong bài UỐNG TRÀ DƯỚI TRĂNG ĐỀN TRẦN)

 

4. Nhặt mãi chưa đầy vùng thức tỉnh

Thiếu cái gì đây của kiếp người?…

        LÊ TÍN

(trong bài  THIẾU )

 

5.Chờ đợi ai giữa trời xanh biển biếc

Bao lâu rồi mà đũa chẳng thành đôi. 

VŨ HỮU THỈNH

(Trong bài NÚI HÒN ĐŨA)

 

5 BÀI THƠ 5 TÁC GIẢ

 

LÊ HỮU LỊCH                

  UỐNG TRÀ                                                     

DƯỚI TRĂNG ĐỀN TRẦN

Bờ sông trăng sáng gió nghiêng cây

Trà sen bốc khói ngát hương bay

Chén nhỏ trên tay dường như lạ

Uống mãi mà sao nguyệt vẫn đầy

 

Một tuần một tuần tiếp một tuần

Chén trà sóng sánh ánh trăng ngân

Tráng tâm lão tượng cười như sóng

Bát ngát đêm hè dậy ý xuân.

 

Sông chảy ngàn năm chẳng cạn dòng

Trăng soi muôn thuở vẫn sáng trong

Rót chén trà thơm vào sóng bạc

Lạy thánh Đông A kính Quốc Công.

LÊ DUY THÁI

LÊN CHÙA

I

Bảo Sái mơ màng mưa sữa bay

Đường trơn dốc dựng muốn cầm tay

Ngại nơi cảnh Phật mình e ngại

Ta vịn vào hương dắt díu mây

 

II

Lên đỉnh Phù Vân ta lặng ngắm

Dưới đời lãng đãng trắng ngàn mây

Trúc xanh như thuở còn Vua Phật

Má ửng chiều xuân tiểu dắt tay.

 

DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

TRƯỚC SÔNG

Một đời sông chảy vào ta

Sóng reo hoa trắng phù sa trái hồng

Dưới trăng nước chảy đôi dòng

Tắt thời binh lửa trổ đòng lúa thơm.
Sông hòa lệ tưới trăng ươm

Thơ ta từ đất rạ rơm nên mùa
Dặm dài muôn nỗi nắng mưa

Sông là nghiên mực trời vừa ban cho!                                       1-2010

VŨ HỮU THỈNH

NÚI HÒN ĐŨA

 

Núi tiếp núi giăng thành bên bờ vịnh

Chỉ còn riêng Hòn Đũa đứng chơi vơi

Chờ đợi ai giữa trời xanh biển biếc

Bao lâu rồi mà đũa chẳng thành đôi.

LÊ TÍN 

THIẾU

Đời mới tám thôi mà chưa chín

Tô mãi nụ cười chửa tròn môi.

Nhặt mãi chưa đầy vùng thức tỉnh

Thiếu cái gì đây của kiếp người ?

More...

DÙNG BẢN ĐỒ VIỆT NAM KHÔNG CÓ HOÀNG SA TRƯỜNG SA

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

Đêm qua lúc nửa đêm chợt một cơn giông kéo về trút mưa xuống vùng quê bên sông Bạch Đằng. Mưa to. Nước dội. Sấm sét chạy rung trời. Chắc chắn lúa mở lòng mà vọt lên giải tỏa đi những cơn khát mưa trời!
Sau những ngày mưa dầm ẩm ướt rét độc rét hại rồi những ngày thiếu mưa... lúa chiêm xuân trên các cánh đồng loi ngoi thèm một màu xanh nõn biếc của thì con gái. Nhà nông bà con ai cũng lo lắng. Hay là do cả bị nhiễm phóng xạ của những đám mây sau động đất sóng thần và nổ các nhà máy điện hạt nhân từ Nhật Bản? Hay là do trái đất đang nóng lên? Quê mình làng mình cũng đang bị nóng lên?
Có khi thế thật!
Ngay cánh đồng trước làng ngày xưa mở cửa mở ngõ ra là gặp ngay màu xanh ngút mắt thoang thoảng hương thơm của lúa cùng những làn gió sớm mai thổi mát lành trên mặt sông tỏa vào không gian. Làng thôn với những căn nhà mái gianh mái ngói những vườn cây ao hồ... dịu êm trong bức tranh quê kiểng véo von tiếng chim hót vi vu tiếng sáo diều nâng vòm trời buổi chiều lên chót vót.
Vậy mà bây giờ. Làng đang hóa phố chóng mặt.
Dịp Thanh Minh hôm đi tảo mộ đập vào mắt: thay cho màu xanh cánh đồng thuở ấy là cả một "thành phố Thiên Cổ" ngồn ngộn bê tông không một bóng cây cao chỉ có những vạt cỏ thơ thớt còm nhom xen đây đó dưới chân những ngôi mộ ngạo nghễ như những tòa lâu đài. Động gió là thấy những hơi nóng táp vào mặt. Cánh đồng dòng sông tuy có nước từ các mương máng chảy xuống nhưng vẫn cảm thấy khô như chảo cơm rang người nấu bếp rưới thêm nước định làm mềm cho dễ ăn.
Ai bảo ruộng đồng xóm ấp không nóng?
Nên trận mưa đêm qua đúng là gieo vàng xuống cho cánh đồng cho nông dân hy vọng một vụ lúa tới sẽ bội thu.
Sang nay vừa nhìn ngắm trời trong mây tạnh mưa còn rỏ giọt trên cành lá vào nhà mở Mạng gặp ngay một bài trên trang trannhuong.com đưa tin về Bản đồ thời tiết của ta. Đọc vội. Giật mình. Liền xin bác Trần Nhương đem về GIÓ ĐỒNG QUÊ cho mọi người cùng biết và chia sẻ.

DÙNG BẢN ĐỒ VIỆT NAM KHÔNG CÓ HOÀNG SA

TRƯỜNG SA -
TRANG WEB NÀY CỦA AI ?

Trần Nhương

alt

TNc: Trên trang Basam.info (http://anhbasam.wordpress.com/) mấy ngày nay đưa tin rằng mục Dự báo thời tiết của VTV khi đưa bản đồ Việt Nam đều không có hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa của chúng ta. Hôm nay tôi phát hiện trên trang web Thoitiet.net dùng bản đồ Việt Nam cũng không có hai quần đảo này (tôi cóp về đây hình trên). Không biết trang này của cơ quan nào ?
Xin các bạn theo link này: http://www.thoitiet.net/default.asp để kiểm chứng.
Thú thật tôi rất lo bọn "diễn biến hòa bình" nó biến báo các trang web chính ngôi của ta để xuyên tạc để có âm mưu lâu dài gì đây? Không biết Ban Tuyên giáo và Bộ TTvà TT có biết không ???

More...

LỤC BÁT LÀ MẸ CỦA THI CA...

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

PHẠM XUÂN TRƯỜNG

LỤC BÁT LÀ MẸ CỦA THI CA

TRONG TÂM HỒN NGƯỜI VIỆT

 

alt

Lục bát có từ bao giờ. Dân tộc nào trên thế giới có thể thơ 6/8 này.

Theo huyền sử thì người Chăm - Pa; người Thái Lan cũng có thơ lục bát. (Vũ Lang Nguyễn Khắc Ngữ. Văn hoá nguyệt san SG 2/10/1957. Nghiêm Thẩm nguyệt san Quê Hương nguyệt san Sài Gòn 1972) (N.Trọng Tạo - Văn chương và cảm luận). Nhưng lục bát ở hai dân tộc này không phát triển dần dần mai một đi. Trong dòng chảy của văn hoá Phù Nam xuyên suốt văn hoá phương Nam miền Nam nước Việt. Cổ sử có sách nói về chủng tộc và địa lý thì dân tộc Chăm Lào và một phần diện tích phía đông nước Thái Lan bây giờ thuộc nước Việt. Bộ tộc Lạc Việt thuộc nền văn hoá lúa nước. Cuộc sống gắn liền với sông nước đồng bằng cày cấy hái lượm thuận tiện. Mùa màng theo sự tuần hoàn của mặt trăng mà chia thành mùa và làm ra lịch. Phương đông lấy lịch âm làm chuẩn nặng về thuyết âm dương ngũ hành xuất phát từ kinh dịch. Kỳ thư đang có nhiều ý kiến. Kinh dịch là do người Việt làm ra (cũng như Cố Cung của người Trung Quốc là Nguyễn An người Việt thiết kế xây dựng lên) kinh dịch bị người Trung Quốc chiếm dụng. Theo kinh dịch các số lẻ (1.3.5.7) thuộc dương các số (2 4 6 8) thuộc âm. Hai số 6 và 8 là số sinh còn số 10; 2 4 là số thành. Nên thơ lục bát theo số 6 và 8 là số sinh (Đỗ Trọng Khơi gmail.com). Mà sinh chỉ có ở đàn bà. Vậy nên ta có tục thơ Mẫu. Đồ dùng hầu hết được gọi bằng cái: cái mâm cái bát cái đĩa... duy có dao dựa được gọi là đực dựa (nhưng không phổ biến lắm).

Trong dòng chảy hàng nghìn năm và quá trình vận động. Lục bát đã ngấm ngầm sinh sôi và tồn tại. Lục bát uyển chuyển giãi bày tâm tư tình cảm có hồn có nhịp có vần có điệu. Có thể nói lục bát là mẹ của thi ca. Là máu chảy trong huyết quản để nuôi sống tâm hồn người Việt. Không một người Việt Nam nào dù là thảo dân (chỉ biết điểm chỉ) cho đến các bậc công hầu lại không thuộc vài câu ca dao vài câu trong Phạm Công Cúc Hoa Phạm Tải Ngọc Hoa Chinh Phụ Ngâm Kiều... ngày nay là Tản Đà và Nguyễn Bính Xuân Diệu...

Có thể nói lục bát là khối nam châm với từ trường cực rộng và lớn. Bất kể người làm thơ ở mọi trình độ khác nhau đều làm được thơ lục bát. Còn hay hay dở tuỳ thuộc vào độc giả và thời gian. Lục bát có thể chết khi đang sống và vẫn sống tưởng như đã chết. Vì bài thơ ấy sinh ra ở quan điểm chính trị của từng thời. Lục bát dung nạp tất cả những vận động thường nhật hàng ngày hàng giờ. Thành câu nói có vần có nhịp để di dưỡng tâm hồn. Cho nên lục bát đã nâng lên thành ca từ của các làn điệu trong cuộc sống. Vì vậy ngày nay người ta tổ chức thi hát các làn điệu dân ca hàng năm và UNEPSCO công nhận Ca trù Quan họ là di sản phi vật thể của thế giới. Cụ Nguyễn Du được công nhận là danh nhân văn hoá thế giới bởi truyện Kiều. Cũng xem công nhận thơ lục bát một cách chưa trực tiếp là di sản của nhân loại.

Lục bát gắn liền với con người Việt như khí trời cơm ăn nước uống. Người ta có thể nhịn ăn nhịn uống hàng tuần nhưng không thể nhịn thở trong vài phút. Dẫu rằng dân tộc Việt trải qua nghìn năm Bắc thuộc vài trăm năm thực dân đô hộ ảnh hưởng văn hoá là có. Nhưng lục bát là “đặc sản” của người Việt Nam. Trưa hè oi ả bà ôm cháu nằm trên võng à ơi bằng câu lục bát mẹ hát dạy con cũng bằng câu lục bát “Con ơi nhớ lấy câu này/ Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan” (Cao dao) (không thể ru con bằng thơ Đường luật thơ tự do bao giờ). Bây giờ thời hiện đại người ta có thể mở cát-set ru con bằng nhạc. Điệu hồn của người Việt và chỉ có người Việt mới sinh ra các làn điệu Ca trù Trống quân Cò lả Chèo Xẩm hát Đúm Ru con Phường vải Nam ai Nam Bình. Cội nguồn lục bát được sinh ra từ các làn điệu dân ca ấy. Trong quá trình lao động gọt rũa kỳ khu lược bỏ chữ nghĩa ghép vần để rồi thành thơ lục bát. Đỉnh cao nghệ thuật là truyện Kiều của cụ Nguyễn Du. Mở đầu truyện Kiều.

“Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh ấy là ghét nhau”

Thật dân dã gần gũi cứ như câu nói thông thường. Nhưng nội hàm như chân lý. Như tổng kết và khẳng định thói đời vốn là như thế. Không một người VN nào không may bị va đập mà không thốt lên câu lục bát sấm truyền này. Ai cũng hiểu và sẽ thuộc. Còn những câu ca dao đầy tình tứ của trai gái trêu gẹo nhau: “Hỡi cô tát nước bên đàng/Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”. Cách gieo vần dung dị hình ảnh thật động và thật đẹp ý tứ làm sao. Nếu như lệ thuộc vào thơ Đường luật với cặp lục bát nói trên sẽ chết. Nếu như đưa vào thể tự do chắc sẽ thô thiển. Có thể ngoa ngôn nhưng ngôn ngữ của người VN là vô cùng phong phú nếu như các nước trên thế giới gọi người sinh ra mình bố là: pa pa mẹ là má ma. Thì VN có không biết bao nhiêu danh từ thay thế mà khi đưa vào thơ đọc lên ai cũng hiểu ví như: Bọ mạ bầm bủ mế mệ cha mẹ bố bu thầy u ba má. Một số trưởng giả ở thành thị ngày xưa con cái gọi bố mẹ là cậu mợ. Vì vậy Tố Hữu đã viết: “Bầm ơi có rét không Bầm”. Ai cũng hiểu Bầm là người mẹ. Hoặc như Nguyễn Bính trong bài “Chân quê”.“Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê”. Dù bị cưỡng bức ảnh hưởng văn hoá phương Bắc hàng nghìn năm ảnh hưởng văn hoá phương Tây vài trăm năm. Ông cha ta vẫn có thứ ngôn ngữ của riêng mình. Các cụ lập ngôn để giữ gìn bản sắc của dòng văn hoá Việt. Nếu như thay câu thơ: “Bầm ơi có rét không bầm” bằng câu “Má ma ơi có rét không má ma” và “Thầy u mình với chúng mình chân quê” bằng câu “pá pa má ma mình với chúng mình chân quê” thì thật ngớ ngẩn nói như thế không phải là phủ nhận tất cả. Người VN vừa chấp nhận vừa lược bỏ đấy là cái hay của chữ Việt. Ví như phụ tùng chiếc xe đạp ở thế kỷ XXI này chúng ta không thể có danh từ nào thay thế được tỷ như: xích líp cồn phốt ghi đông gác đờ bu gác đờ xen poóc pa ga moay ơ... mà bất kể người VN nào ra cửa hàng muốn mua mà gọi tên khác được. Chính vì thế mà chúng ta còn có thơ lục bát đến hôm nay. Không giống bất kỳ thứ thơ nào trên thế giới dù bị nô lệ lâu nhất trên thế giới.

Cái hay cái đẹp của thơ lục  bát là tính phổ quát rộng sức truyền cảm sâu. Ngôn ngữ dìu dặt có vần luật trầm bổng có tính nhạc và rất du dương. Nếu như tiếng Hán có 4 thanh (Bình Thượng Khứ Nhập) thì tiếng Hán - Việt có 8 thanh (ngang huyền hỏi ngã sắc khứ sắc nhập nặng khứ nặng nhập) (Thơ thi pháp và chân dung của Đặng Tiến - NXB PN - 2009) dẫn chứng ra đây không phải lệ thuộc hẳn vào sách vở. Bởi trong quá trình giao lưu tiếp cận với nhiều nền văn hoá trên thế giới. Ảnh hưởng văn minh của văn hoá nhân loại. Lục bát không ngừng đổi mới và làm mới mình. Rất hãn hữu chúng ta đọc thơ lục bát hôm nay có từ “chàng” và “nàng” như Nguyễn Bính ngày xưa “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi”. Thơ nói chung và lục bát nói riêng phải thật giầu hình ảnh tài ví von. Dù là giận hờn hay oán trách song thơ vẫn mềm mại như câu ca dao: “Công anh bắt tép nuôi cò/Đến khi cò lớn cò dò lên cây”. Hay nói đến cảnh gian nan vất vả của người vợ: “Cái cò lặn lội bờ sông/Gánh gạo đưa chồng nước mắt nỉ non”. Để nói lên cảnh lam lũ ca dao dùng hình ảnh con cò để nói về thân phận con người. Lục bát đã vô tình trở thành lời hát ru. Người ta hát bằng thơ lục bát tỏ tình bằng thơ lục bát đối đáp bằng thơ lục bát và cả khóc bằng thơ lục bát (thuê thợ kèn khóc ở đám ma). Tám thanh tiếng Hán - Việt làm câu lục bát giàu có lên ngọt ngào dân dã và gần gũi xiết bao. Sức mạnh của thơ lục bát truyền khẩu trong kháng chiến chống Pháp là những bài hò vè diễn ca cổ động phong trào toàn dân đánh giặc. Trong bình dân học vụ lục bát làm chức năng ấy mà thơ khác không đủ sức mạnh làm lan toả và sâu rộng trong mọi tầng lớp từ quần chúng không biết chữ đến trí thức. Ai đó đã nói: Văn xuôi là gạo nấu thành cơm còn thơ là cơm chưng cất thành rượu. Còn thơ hàn lâm là rượu chưng cất thành cồn. Nếu như thơ Đường luật bắt buộc tuân thủ niêm luật: Nhất tam ngũ bất luận. Nhị tứ lục phân minh. Đề thực luận kết. Thơ Sonnê của Pháp quy định 8 dòng mỗi dòng chỉ có 14 từ. Thơ Hai - Kư của Nhật được cấu tạo 17 âm tiết (5-7-5) chia làm 3 dòng. VD: Bài thơ của Bashô (1694) “Thu thăm thẳm/ Người hàng xóm của tôi/ Ông sống ra sao - Tôi tự hỏi”. Và dứt khoát phải nói đến một mùa trong 4 mùa của một năm. Thơ lục bát của VN cũng tuân thủ rất nghiêm nhịp đôi 2-2-2 và sự phân phối bằng trắc. Câu lục được cấu tạo B+B/T+T/B+B và câu bát T+B/T+T/ T+B/B+B (Thơ thi pháp và chân dung của Đặng Tiến - NXBPN 2009). Lục bát chuẩn thì chữ thứ 2 câu lục với chữ thứ 2 câu bát phải là thanh bằng. Chữ thứ 4 mỗi câu là thanh trắc. Ngoài nhịp đôi truyện Kiều của cụ Nguyễn Du đã phá cách theo nhịp 3-3 mà dùng thanh trắc ở chữ thứ 2 và chữ thứ 4 ngay trong câu lục mà nghe vẫn chuẩn. “Mai cốt cách tuyết tinh thần. Đau đớn thay phận đàn bà. Nước vỏ lựu máu mào gà”. Các chữ thứ 2 thứ 4 ở câu lục này đều thanh trắc mà vẫn chuẩn (Vương Trọng. Lục bát.com) ngày nay đọc thơ Nguyễn Duy. Anh cũng phá cách theo nhịp 3-3. “Bao triều vua phế đi rồi/Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”. Nếu câu thơ ngắt nhịp đôi thì khó lọt tai vô hồn vô nghĩa “Bao triều/ vua phế/ đi rồi. Người yêu/ nước chẳng/ mất ngôi/ bao giờ”. Vậy bằng cảm quan đọc ở nhịp 3-3 câu thơ sẽ rung động thanh thoát thuận tai. “Bao triều vua phế  đi rồi/ Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”.

alt

Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay. Vì kết cấu vần thanh điệu bằng trắc. Ví dụ: Cũng viết về đôi mắt: Thanh Tùng có 2 câu thơ tự do “Quán ngợp lá mắt em thì đen thế/ Rượu không say chỉ đủ để buồn thôi”. Còn Đồng Đức Bốn thì viết: “Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm” cả hai câu thơ đều hay. Nhưng với tôi thơ Đồng Đức Bốn dễ thuộc dễ thấm. Có thể ví thơ lục bát như diễn viên xiếc đi trên giây thép. Nghiêng bên này là văn vần nghiêng bên kia là diễn ca hò vè. Dù vần thật chuẩn nhưng là ghép thì câu thơ thiếu sức sống không làm lay động hồn người đọc. Một câu thơ lục bát là hai dòng câu thơ mới đủ ý và nghĩa. Không như thơ Đường luật hoặc tự do. Một câu thơ có thể nói được hết một ý. Vì chạy theo vần nên có thể ví thơ lục bát như con ngựa bất kham. Nếu thiếu hình ảnh ít ví von thiếu ngôn ngữ đồng nghĩa đồng âm thì câu thơ rất chênh vênh. Bài thơ sẽ rất dài và loãng vì vậy có thể nói thơ lục bát. Chữ như con ngựa bất kham. Nó sẽ lôi mình đi chỉ vì chạy theo vần. Thơ lục bát dễ bị quẩn vần kể cả nhà thơ chuyên nghiệp đọc lên thấy đồng âm: Ví dụ bài thơ: “Phiêu du qua thế gian này/ Đồng tiền của mẹ lại bay về trời/ Tôi tiêu pha hết một đời/ Bằng niềm tin - phúc lộc thời bé thơ”. Để đạt được ý nhưng chữ của 3 dòng với phụ âm Ời. Đọc lên thấy đơn điệu tẻ nhạt dễ dãi đều đều. Giữa xô bồ phồn tạp của cuộc sống. Người thơ vẫn tìm thấy khoảng tĩnh lặng trong tâm hồn. Dồn nén vào thơ chỉ với 14 từ để nói lên thân phận “Ở rừng tự hát ru nhau/ Lá trầu chị héo Quả cau em già” (Lê Đình Cánh) “Cha ngồi chẻ lạt bên thềm/ Chẻ đôi cả những muộn phiền đầy vơi/ Mẹ đi nhổ mạ tháng 10/ Lạt mềm trói mấy kiếp người vào nhau” (Thuý Ngoan). “Trang đời xanh thẳm phấn bay/ Phấn xưa đã kết thành mây trắng đầu” (Phi Tuyết Ba) “Cũng đành phận kiến mà thôi/ Còng lưng cõng hạt cỏ rồi gió bay/ Trót không biết hát kiếp này/ Kiếp sau hoá bụi lau gầy bên sông” (Nguyễn Đình Di). “Giật mình nghĩ dại mà đau/ Điều không có cái không màu lại yêu” (Thanh Tuyên) “Vẫn là đá đấy viên bi/ Em tròn xoe thế còn gì cho nhau/ Mà nào tôi có trốn đâu/ Tôi đang đứng ở phía sau nụ cười” (N.Đ.Kiên) “Nhọc nhằn mẹ đội âu lo/ Để lời ru cũng lặn mò bến sông/ Ru hời mãi cái long đong/ Mẹ ơi mẹ cả đời còng tiếng ru” (N.Đ.Kiên). “Cỏ gừng lay nắng nghĩa trang/ Nén nhang rướm đỏ lá vàng rơi rơi” (Đ.Tử Vấn). Trong thơ trữ tình còn lùa được hồn vía thơ trào phúng vào bài thơ của mình. Cười cợt đấy mà đau đớn nỗi niềm nhân thế “Vừa một xuân lại một xuân/ Vợ ơi đại hạn đã gần một năm/ Một nhà là sáu mồm ăn/ Một thi nhân hoá phăm phăm ngựa thồ... việc thiên việc địa việc nhà/ Một mình anh vãi cả ba linh hồn” (Nguyễn Duy). “Áo em ngực trễ như mời/ Tràn bia Thuỷ Tạ lắm lời giả say” (Lê Đình Cánh). “Cho kỳ tốc váy em lên/ ném đời anh xuống cho quên ngọn ngày/ Anh còn lưng lửng chiều nay/ Và còn lưng lửng chén này nào em (Bùi Hoàng Tám). “Vợ tôi đi cấy lấy công/ Tôi làm thơ mãi mà không có gì... Đêm trăng trải chiếu ngoài hè/ Thị ngồi thư giãn đọc vè cũng say/ Đàn bà biết sắm dao xây/ Ti vi nội địa biết xoay cái cần/ Vợ quê công nợ trả dần/ Đọc thơ cứ thấy câu vần là khen” (Xuân Đam). Lục bát đùa giễu một cách tài hoa của một vài tác giả trích dẫn ra đây rất hiếm. Đấy là sở trường của các nhà thơ mà không phải ai cũng có thể có giọng tưng tửng chua chát hóm hỉnh ấy trong bạt ngàn thơ lục bát của thời hiện đại. Có thể nói đó là môn phái của người thầy là cụ Tú Xương.

Trong thế giới phẳng “toàn cầu hoá hôm nay có 2 thái độ trái ngược đối với thơ lục bát. Lắm kẻ thờ ơ hoài nghi khả năng của thơ lục bát. Họ thành kiến rằng lục bát là thể thơ quá gò bó về vần luật về thanh luật về tiết tấu nó đơn điệu bằng phẳng quê mùa. Họ vội cho rằng lục bát chỉ biểu hiện được những cảm xúc quen thuộc của người Việt truyền thống. Còn tâm sự đầy những suy cảm tinh vi phức tạp của người hiện đại thì lục bát khó chuyền tải. Họ lầm tưởng rằng lục bát sẽ khó theo kịp nhịp biến hoá đầy bấn loạn của tư duy thời hiện đại. Thậm chí có người còn coi lục bát như một rào cản đối với những lối tư duy nghệ thuật tân kỳ. Và họ từ chối lục bát để một mực chạy theo những thể khác. Thực ra mọi vẻ đẹp cùng biến thái mơ hồ nhất của thiên nhiên mọi biến động khôn lường của đời sống mọi tầng sống sâu xa huyền diệu nhất của tinh thần cá thể mọi khuynh hướng tư duy của nghệ thuật dù truyền thống hay tối tân đều không xa lạ với lục bát. Vấn đề là người viết có đủ tài để làm được chủ của lục bát hay không... sự gò bó có thể là một khó khăn bất khả vượt đối với ai đó nhưng lại là một thách thức đầy hấp dẫn đối với những tài năng thơ thiết tha với tiếng Việt... Họ làm mới cách tân để gửi gắm tấc lòng của con người hôm nay vào thể thơ hương hoả của cha ông. Sẽ là không quá lời khi bảo rằng: trân trọng thơ lục bát cũng là thước đo về văn hoá với một người thơ Việt (Ts. Chu Văn Sơn).  

- Lục bát trào phúng “Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh/ Anh về phân bắc phân xanh đầy chuồng” (Cao dao mới) “Hoan hô đại tướng Võ Nguyên/ Giáp ta thắng trận Điện Biên lẫy lừng” (Ca dao mới). “Hoan hô đồng chí Hà Đăng/ Ấn vào tàu chạy băng băng như rùa” (Ca dao mới).

- Lục bát lấp lửng: ... “Ngã ba sông một cái cồn/ Cỏ cây lún phún như là Nữ-Oa”“Anh đi công tác Plây/ Ku dài dằng dặc biết ngày nào ra” (Cao dao mới).

- Lục bát sai dấu: “Chung nhau ăn một quả chuồi/ Ra về nhớ mãi cái buổi hôm nay” (Cao dao mới).

- Lục bát từ láy “Này em phận mỏng duyên dày/ Lưa thưa mộng mị mưa đầy hư không/ Đền đài tỉnh giấc rêu phong/ Nhong nhong thiên hạ lên đồng sướng chưa” (Nguyễn Duy) “Xanh xanh đỏ đỏ phừng phừng/ Tứng từng tưng tửng từng tưng đã đời” (Nguyễn Duy).

Thoạt kỳ thuỷ của lục bát có từ bao giờ người ta vẫn tồn nghi và đi tìm. Người để lại cho hậu thế đến nay là truyện Kiều. Hãy xem như lục bát có từ thời cụ Nguyễn Du. Lục bát có 2 phong cách: Dân gian và cổ điển cả hai đều song hành.

- Lục bát dân gian theo điệu nói.

- Lục bát cổ điển theo điệu ngâm.

Nếu tính từ cụ Nguyễn Du đến thời thơ mới. Hậu duệ của cụ có Tản Đà (thơ nghiêng về cổ điển). Á nam Trần Tuấn Khải (nghiêng về dân ca). Đến giữa thời thơ mới có Nguyễn Bính (dân gian) Huy Cận (cổ điển). Thời hiện tại có Vương Trọng Bùi Giáng Phạm Công Trứ Phạm Thiên Thư Nguyễn Thanh Mừng Đỗ Hoàng Đồng Đức Bốn. Đặc biệt chất bi hài trong lục bát hoà quyện vào nhau là vô cùng khó. Thường là theo một giọng giọng trữ tình phê phán hay ngợi ca hoặc trào phúng. (Những cây bút có tài ấy đến hôm nay phải kể đến Nguyễn Duy Bùi Hoàng Tán Xuân Đam và Lê Đình Cánh...).

Thường là giọng trữ tình day dứt “Nỗi đau như đá hoá mềm/ Bao nhiêu cái ác còn trên đường đời/ Bao nhiêu cái thiện chơi vơi/ May còn ánh mắt cuối trời mùa thu” (Minh Trí). “Khói hương quyện đến trời xanh/ Tiếng kêu hạ giới mỏng manh bọt bèo/ Mất chồng xuân cũng sạch veo/ Gương soi nửa mặt đá đeo nửa đời” (Trần Đức Lộc). “Một thời chập chững nắng mưa/ Đến khi gió tạnh cũng vừa mất nhau/ Lòng không sát muối mà đau/ Chợ đông thăm thẳm một màu hoàng hôn” (Hoàng Khôi). “Câu thơ nấp ở sau đình/ Nhuộm trăng trăng sáng nhuộm tình tình đau” (Đồng Đức Bốn).

- Ý tại ngôn ngoại. Lục bát làm mềm những trăn trở suy tư tài hoa mà rất trữ tình “Cuối đường tôi gặp được em/ Con đường dài để em quên tôi rồi/ Bơ vơ đứng giữa chân trời/ Muốn quay lại/ Trắng mây phơi mái đầu” (Hồ Anh Tuấn). “Cái đã thì cũng qua rồi/ Cái chưa óng ánh nửa đời vẫn chưa... Tiếng chuông con thỉnh vỡ đôi/ Nửa dâng hồn mẹ/ Nửa nhồi tim con” (Hoàng Thanh Tâm). “Cho đi nhận cái nợ nần/ Không vay cũng trả cái phần chẳng vay... Những ai xác tím bầy tôi/ Một thời lầm lỡ/ Một thời u mê... Nghĩa nhân rút ván qua cầu/ Tình yêu liệu có nhuốm màu đổi trao... Ta về chẳng đánh mất mình/ Vẫn tâm can vẫn vóc hình thủa xưa/ Mặc ai tráo trở nắng mưa” (Phạm Ngà) “Giàn trầu không gió bấc hong/ Lá vàng rụng héo cong cong nỗi niềm” (Minh Luyện).

- Lục bát đầy tính triết luận không thua kém bất cứ thể loại nào:

“Có tài mà cậy chi tài/ Chữ tài liền với chữ tai một vần” (Nguyễn Du).

“Ta đi trọn kiếp con người/ Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” (Nguyễn Duy). “Trước sau một kiếp luân hồi/ Đinh ninh thề thốt cũng rồi chia xa/ Những gì ngụy tạo phồn hoa/ Mây mưa thoáng chốc bỗng là khói sương (Phạm Ngà). “Cuộc đời sớm nắng chiều mưa/ Ai chưa tay trắng thì chưa biết mình” (Hoàng Thanh Tâm)...

- Lục bát làm mới mình bằng cách xuống dòng nhịp đôi nhịp ba. Nhưng xét cho cùng nội lực của câu thơ ấy có đủ sức nặng để truyền tải đến cho độc giả mới là điều quan trọng. Ví dụ: “Đồi chè/ Trên đỉnh/ Trèo lên. Đâu đây quan họ/ Làng bên/ Xóm đồi” (Lâm Cẩn). “Quê xưa cơm ít khoai nhiều/ Rau rừng thấm mặt/ Chung chiều vị khoai” (Đào Tử Vấn). “Tre xanh/ xanh tự bao giờ... Mai sau/ Mai sau/ Mai sau. Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh” (Nguyễn Duy). Tìm tòi cách tân cũng chỉ nhằm biểu đạt tính tư tưởng của tác giả. Hồn vía bài thơ vẫn là quan trọng.

- Lục bát có thể đăng đối “Ông lão ngày nay đi bừa/ Là con ông lão ngày xưa đi cày” (Trần Ngọc Thụ). “Thôi đừng hát nữa hỡi ông/ Cứ chìa tay đủ đau lòng thế gian” (Nguyễn  Đình Kiên). “Chị ngồi giặt áo cầu ao/ Sóng dìm ngạt thở ngôi sao trên trời/ Chị ngồi giặt áo kiếp người/ Hai tay vò nát nụ cười gái trinh” (Lâm Cẩn). “Vấn vương với sợi tơ trời/ Tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan” (Đoàn Thị Tảo).

“Thơ lục bát qua một thế kỷ về sau càng hiện đại so với hồi đầu. Chứng tỏ thơ lục bát vẫn trường tồn gắn bó máu thịt với tâm hồn Việt trên con đường hiện đại. Lục bát là tài sản thiêng liêng của nền văn hoá Việt. Chừng nào thế giới còn chưa thấu hiểu vẻ đẹp của lục bát. Chừng ấy họ chưa hiểu vẻ đẹp của thơ VN. Và chừng nào ta còn chưa làm cho thế giới tiếp nhận được vẻ đẹp của lục bát. Chừng ấy nền thơ Việt vẫn còn chưa thực sự làm tròn sứ mạng của mình”         (Ts. Chu Văn Sơn)  Vậy thơ VN bao giờ có tên trên bản đồ thơ thế giới.

Nếu như năm 1972. Phạm Thiên Thư (sinh tại Hải Phòng) đã vào Nam đã viết 3.000 câu “Đoạn trường vô thanh” để nối tiếp đời Kiều sau này. Tác phẩm đoạt giải nhất do Á nam Trần Tuấn Khải làm chủ khảo. Thì tháng 12 năm 2010 nhà thơ Đỗ Hoàng đã xuất bản: “Kiều Thơ” (NXB Hội nhà văn 2010) dịch từ nguyên tác truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân với 6.122 câu thơ. (gấp đôi truyện Kiều cụ Nguyễn Du). Thuộc thơ và hiểu thơ là hai phạm trù khác nhau.

Phải chăng sức sống mãnh liệt của thơ lục bát như sông Hồng Hà cuồn cuộn phù sa bồi đắp cho thi ca hương hoả tổ tiên. Dẫu rằng giữa thời bùng nổ thông tin. Cái gọi là thơ hiện đại hậu hiện đại xô đẩy lấn át dè bỉu. Lục bát vẫn dồi dào sức sống cuồn cuộn trong máu huyết của người VN.

Dù cách tân không vần thơ văn xuôi thơ hiện đại đến hậu hiện đại của thơ nói chung và lục bát nói riêng. Tạm gọi là gạo Từ khi loài người tìm ra lửa khởi thuỷ loài người nặn ra nồi đất để nấu cơm rồi đến nồi đồng nồi gang nồi nhôm rồi đến nồi cơm điện. Mục đích cuối cùng là nấu cơm chín. Độc giả ăn bát cơm tinh thần và sống được.

Người Trung Hoa tự hào về thơ Đường luật người Pháp tự hào về thơ Sonnê người Nhật tự hào về thơ Hai - Kư. Thì người VN có quyền tự hào về thơ lục bát. Nếu nói Hoa sen là quốc hoa. Áo dài là quốc y Rượu nếp cái hoa vàng là quốc tửu. Đàn bầu là quốc khí. Thì lục bát là Quốc thi của người VN.

Lục bát là mẹ của thi ca trong tâm hồn người Việt.

Hải Phòng ngày 22 tháng  3 năm 2011

Phạm Xuân Trường

 

More...

NGÀY THƠ QUẢNG NINH LẦN THỨ 24

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

NGÀY THƠ QUẢNG NINH

LẦN THỨ 24

Sáng ngày 29-3-2011 tại TP Hạ Long bên bờ vịnh Hạ Long đã diễn ra trọng thể Ngày Thơ Quảng Ninh lần thứ 24.

 
Đến dự có đồng chí Đặng Huy Hậu Phó Chủ tịch UBND tỉnh và các đồng chí lãnh đạo chuyên viên các ban ngành của tỉnh. Về phía khách mời có nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; nhà thơ Trần Đăng Khoa Giám đốc Chương trình phát thanh có hình VOV và đại diện một số hội VHNT các tỉnh thành bạn.Trong lời khai mạc đồng chí Phạm Thành Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh kiêm Tổng Biên tập báo Văn nghệ Hạ long đã phát biểu nhấn mạnh ý nghĩa của Ngày thơ Quảng Ninh. Đồng thời khẳng định Ngày thơ Quảng Ninh là một trong những hoạt động văn hoá quan trọng của tỉnh. Chính vì vậy việc tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh không chỉ là hoạt động mang tính văn học - nghệ thuật thuần tuý mà cần được mở rộng như một hoạt động lễ hội văn hoá đặc sắc của Quảng Ninh. Và thực tế qua 24 lần tổ chức ra đã diễn ra rất trọng thể và đạt kết quả cao.
Ngày thơ Quảng Ninh năm nay theo nhận xét của rất nhiều người có mặt là phong phú hơn so với mọi năm. Ngoài lễ dâng hương tưởng nhớ Hoàng đế -Thi sỹ Lê Thánh Tông tại di tích Bài Thơ ở núi Bài Thơ (TP Hạ Long) các đại biểu còn tham dự Lễ thả thơ tại trụ sở Hội VHTN.

alt src=http://camphuong.vnweblogs.com/gallery/10111/previews-med/THOQN06.jpg

Các Nhà thơ Hữu Thỉnh Trần Nhuận Minh; các đồng chí: Đặng Huy Hậu Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Lê Toán Chủ tịch Hội VHNT tỉnh và đại diện một số chi hội VHNT Đông Triều Yên Hưng Uông Bí Tiên Yên Vân Đồn... đã thay mặt các văn nghệ sỹ trong tỉnh thả những câu thơ chọn những bài thơ tiêu biểu đáng nhớ của các thế hệ thi sỹ xưa và nay viết về Quảng Ninh.

alt src=http://camphuong.vnweblogs.com/gallery/10111/previews-med/THOQN08.jpg

Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ 24 còn được tiếp diễn với một số hoạt động như tổ chức Lễ trao giải thơ Lê Thánh Tông (do UB MTTQ tỉnh phối hợp với Hội VHNT tỉnh tổ chức) tại Hội trường MTTQ tỉnh.

alt src=http://camphuong.vnweblogs.com/gallery/10111/previews-med/THOQN11.jpg

Đêm thơ Quảng Ninh tại Mỏ than Hà Lầm với chủ đề “Thơ Nhạc với Người thợ mỏ” tại Công ty Cổ phần Than Hà Lầm (do Hội VHNT tỉnh phối hợp với Công ty Cổ phần Than Hà Lầm tổ chức) Các hoạt động thơ ca qua các năm diễn ra thường niên tại các TP huyện thị các Công ty… đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng cán bô công nhân và công chúng yêu thơ Quảng Ninh như một Lễ hội lớn trên đất Quảng Ninh.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH BẠN BÈ TRONG NGÀY THƠ QUẢNG NINH

alt src=http://camphuong.vnweblogs.com/gallery/10111/previews-med/nhathohuuthinh.jpg

NHÀ THƠ HỮU THỈNH PHÁT BIỂU TẠI

NGÀY THƠ QUẢNG NINH 29-3-2011

alt src=http://camphuong.vnweblogs.com/gallery/10111/previews-med/TDKVDH.jpg

TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ ĐÀM HIỂN

alt src=http://camphuong.vnweblogs.com/gallery/10111/previews-med/CACNGHESI.jpg

CÁC NHÀ THƠ QUẢNG NINH VỚI NHÀ THƠ HỮU THỈNH

(NGƯỜI ĐỨNG THỨ TƯ TỪ TRÁI SANG)

alt

TRẦN ĐĂNG KHOA VỚI DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

alt

NGỌC ƯỚC VÀ TRẦN ĐĂNG KHOA

 

 alt

Thả thơ hay còn gọi là "phóng sinh" cho thơ Quảng Ninh !

More...

“ĐÊM THƠ BẠCH ĐẰNG GIANG”

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

Trước thềm Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ 24 (29-3-2011)

YÊN HƯNG

CÓ MỘT “ĐÊM THƠ BẠCH ĐẰNG GIANG”

DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

alt

Yên Hưng tự hào có dòng sông Bạch Đằng không chỉ mang chiến tích vào sử sách nước Việt mà còn đằm những áng văn chương các thời đại. Các đức vua Lê Thánh Tông Trần Minh Tông Trần Anh Tông các danh nhân Trương Hán Siêu Nguyễn Trãi… thời nay có nhạc sĩ Lưu Hữu Phước nhà văn Ngô Văn Phú hoạ sĩ Bùi Quang Ngọc Hoàng Công Luận cùng nhiều văn nghệ sĩ khác trong nước và thế giới… từng để lại những bài thơ tuỳ bút bút ký những bức hoạ những ca khúc về dòng sông. Sự nghiệp của nhà Trần còn bàn đến nghìn năm không chỉ trong Binh thư mà còn tạo cảm hứng vô tận trong các thể loại VHNT.

Với một vùng quê đậm chất sử thi người Yên Hưng đã sớm nhạy cảm về ngôn từ hình ảnh sắc màu và giai điệu khi ngợi ca dòng sông ca ngợi vua tôi tướng sĩ dân binh nhà Trần. Sự ngợi ca ấy được cộng hưởng bằng tiếng nói của thơ ca nhạc hoạ… xuyên qua các thời đại đến bây giờ như một nguồn cảm hứng khôn nguôi.

Chẳng riêng các tác giả thơ có lẽ người dân Yên Hưng khi đã cầm bút không ai là không ít nhất một lần nhắc về dòng sông Bạch Đằng với khát vọng thể hiện một bức tranh bằng thơ về chiến tích xưa và cuộc sống đương đại. Nhiều bài thơ đăng báo phát trên sóng phát thanh truyền hình nhiều tập thơ trong nước và của Quảng Ninh viết về Bạch Đằng đều có sự góp mặt của các tác giả Yên Hưng.

Những “Đêm thơ Bạch Đằng Giang” xuất hiện với sự tham gia của các tác giả thơ Hội VHNT Yên Hưng CLB Thơ Bạch Đằng Giang từ nhiều năm nay đã đi vào đời sống văn hoá văn nghệ của nhân dân.

Năm 1988 nhân kỷ niệm 700 năm chiến thắng Bạch Đằng (1288-1988) một đêm thơ đầu tiên do các cây bút Hội VHNT Yên Hưng tham gia đã tổ chức tại phòng họp của dãy nhà Bảo Tàng huyện Yên Hưng (Nhà Đoan cũ thời thuộc Pháp) cạnh Ngã Tư Quảng Yên. Cuộc gặp mặt thơ này có nhà thơ Trần Nhuận Minh Ngô Tiến Cảnh và các anh chị thường trực Hội VHNT Quảng Ninh. Lúc đó các tác giả thơ Yên Hưng như: Vũ Hữu Thỉnh Dương Phượng Toại Hoàng Gia Điền (bộ đội từ Hà Nội về) Đinh Tuấn Minh Như Thắng Phạm Hùng Phi… đã trình bày các bài thơ của mình về quê hương Bạch Đằng giang. Trong hoàn cảnh eo hẹp của kinh tế rất đỗi khó khăn Đêm thơ tuy diễn ra đơn giản không có sân khấu chỉ đọc qua loa máy của bộ âm ly nhỏ do Đài Truyền thanh huyện giúp đỡ người ngâm thơ không có nhạc đệm… Tôi là một tác giả cả ngày hôm đó chỉ có được một bát cháo để ấm bụng. Nhưng ai cũng rất vui rất nhiệt tình và đọc thơ với một niềm xúc động.

Từ đó Đêm thơ hằng năm được duy trì tổ chức lúc ở huyện khi ở Lễ hội Tiên Công ở xã Cẩm La... Nhất là khi Ngày Thơ Quảng Ninh của tỉnh được chính thức ra đời thì sinh hoạt thơ ca ở Yên Hưng được củng cố như một thông lệ. Đêm thơ Bạch Đằng giang đã thành Đêm thơ truyền thống có thêm sự giúp đỡ kinh phí của UBND huyện và sự cộng tác tổ chức của các cơ quan đoàn thể và các địa phương. CLB Thơ Bạch Đằng giang cũng là một tổ chức đắc lực góp phần hưởng ứng và ủng hộ duy trì đưa sinh hoạt thơ ca vào đời sống văn hóa văn nghệ của nhân dân. Trình bày thơ không còn đơn điệu nữa mà đã dần được hỗ trợ của âm thanh ánh sáng góp phần nâng cao nghệ thuật trình diễn cùng với kịch bản dàn dựng công phu và sự linh hoạt của người dẫn chương trình… đã đạt hiệu quả rất tốt tới người thưởng thức. Nhiều giọng ngâm thơ xuất hiện như: Thanh Quyết Minh Quá Minh Sắp Thế Dũng Thanh Hương Thanh Nhàn… đi vào nỗi nhớ của công chúng yêu thơ. Đêm thơ Bạch Đằng giang đã là một nét văn hóa mới bổ sung vào kho tàng lễ hội dân gian ở Yên Hưng. Qua hoạt động của những Đêm thơ nguồn cảm hứng thi ca thêm xúc tác mạnh mẽ vào tâm hồn các nhà thơ các tác giả gây niềm phấn khích sáng tác.

Nhưng phải đến năm 1997 Yên Hưng mới có các tác giả tác phẩm riêng biệt trách nhiệm trước sản phẩm thi ca của mình. Đó là sự ra đời một loạt các tập thơ Tiếng còi gốc rạ của Dương Phượng Toại Tiếng chuông chiều của Lê Hữu Lịch Về nguồn của Vũ Hữu Thỉnh Đất Quê Tôi của Lê Tín. Sau đó là một loạt các tác phẩm như được trên đà nối tiếp: Nhớ lời mẹ ru của Lê Hữu Lịch Tìm hương Một thời ra trận Giọt thu vàng của Lê Duy Thái Viên phấn thời gian của Đinh Xuân Thiểm Huơng thầm của Hữu Lững... Từ năm 2008 Hội VHNT Yên Hưng đã gặt hái được nhiều thành tựu trong lĩnh vực thơ ca. Ban thơ đã có nhiều tác giả liên tiếp xuất bản các tập thơ mới. Đó là: Lê Hữu Lịch  với tập Sóng trắng nắng hanh-NXB Văn Học. Lê Duy Thái với Bến Ngự Trăng thơ-Hương Sen-NXB Hải Phòng. Lê Tín với Khoảng trời xuân-NXB Văn Học. Đặng Đình Nguyễn với Nơi tìm về-NXB Văn Học. Dương Phượng Toại với tập thơ Cánh đồng và Ngọn lửa-NXB Văn Học. Lê Cường với Hương Xuân-NXB Hội Nhà Văn. Đặc biệt là 2 tập Sóng trắng nắng hanh của Lê Hữu Lịch Bến Ngự Trăng Thơ của Lê Duy Thái nhóm Tam hữu Thi ca với tập thơ KHÁT VỌNG BẠCH ĐẰNG do NXB Văn Học ấn hành năm 2010 của 3 nhà thơ: Lê Hữu lịch Lê Duy Thái và Dương Phượng Toại… đã dành nhiều cảm xúc về dòng sông huyền thoại này.

Bên cạnh đó còn có tập thơ Bạch Đằng Giang Miền sáng sông trăng của CLB Thơ BĐG của các tác giả chưa là hội viên Hội VHNT như Riêng chung một cuộc đời của Nguyễn Văn Quỳ Tình quê của Trần Duyệt…

Sự ra đời của các tập thơ riêng đã thúc đẩy công việc giới thiệu tác giả tác phẩm qua những đêm thơ. Đó là các Đêm thơ: Thơ với Mùa Xuân thơ với Mùa Thu Đêm thơ giới thiệu Ba nhà thơ họ Lê: Lê Hữu Lịch Lê Duy Thái Lê Tín Đêm thơ giới thiệu tập thơ Bạch Đằng Giang tập thơ Miền Sáng Sông Trăng… rất được công chúng hoan nghênh.

Thông qua các hoạt động thơ mà nhân dân Yên Hưng biết và hiểu thêm các tác giả tác phẩm. Mỗi tác giả có một phong cách riêng làm nên những gương mặt thơ vùng đất này. Nói đến thơ Yên Hưng là bạn yêu thơ nhớ đến: Một Dương Phượng Toại nồng nàn day dứt tiếc nuối quặn đau với đồng quê tình yêu đôi lứa với số phận người nông dân gắn bó cuộc đời vào cánh đồng dòng sông: Khi đi tìm dáng thanh cao cây trúc/ Tôi chợt nhớ những gì cất giữ tháng năm xưa /Tất cả rấm hòn than trong bếp / Cháy sang tôi ngọn lửa: những câu thơ

Một Vũ Hữu Thỉnh tha thiết với nguồn cội những hội làng mái từ đường dòng họ thiêng liêng những con người cần mẫn tạc vào năm tháng những nét hoa văn của cuộc đời những giọt mồ hôi bồi đắp vào làng xưa: Ta tìm về nguồn gốc mẹ sinh ra / Con đường xanh mơ ước tuổi ta đi / Và gặp lại cứ ngỡ là cổ tích…

Một Lê Hữu Lịch hào sảng với âm vang chiến tích với huyền thoại hoá các sự kiện với sóng nước nắng gió làng Rừng bên bờ Bạch Đằng Giang: Sông chảy ngàn năm chẳng cạn dòng / Trăng soi muôn thuở vẫn còn trong. Một Lê Duy Thái trầm tĩnh lắng sâu chiêm nghiệm với quá vãng với Một thời ra trận với thời gian đi Tìm hương để đọng lại những Giọt thu vàng… Ông đã tìm được màu vàng suy tưởng rất lãng mạn tràn ắp trong suốt 5 tập thơ: Không phải nước đâu máu ròng cuộn chảy / Lịch sử trôi sóng chữ chói vàng bay / Bông lau trắng chớp loé vàng chiều tháng bảy / Người đứng bên sông loé ánh vàng mây. Lê Tín hồi tưởng tình yêu trẻ mãi khoảng trời xuân với tình thơ tình đời với ngôi làng cửa biển: Người đinh ninh đất đinh ninh/ Ta còn mắc nợ khối tình bến sông…

Đinh Văn Thiểm Lê Cường Hữu Lững Đỗ Minh Tâm mộc mạc giản dị ý thơ câu chữ nhưng đều toát lên tình đất tình người hồn thơ Yên Hưng đằm thắm và say mê.

Nền Thơ Yên Hưng đã làm nên một dấu ấn đáng ghi nhận với thâm niên dài hoạt động trình diễn giới thiệu tác giả tác phẩm khá phong phú. Đó là những ấn tượng mà vùng đất và dòng sông này được dân gian gọi là nơi miền sáng trăng thơ- một địa danh của lịch sử của một miền văn hoá.

Tuy nhiên so với mặt bằng thơ hiện nay thơ Yên Hưng còn nhiều điều phải bàn đòi hỏi các nhà thơ phải có bản lĩnh thi ca vươn lên tự làm mới mình. Nhưng dù sao đó cũng là những sản phẩm trí tuệ đóng góp được cất lên từ tình yêu mảnh đất và con người Bạch Đằng Giang từ nỗi lòng đằm nặng của người nghệ sĩ với miền sáng trăng-thơ.

More...

VỀ CUỐN TIỂU THUYẾT HỘI THỀ

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

Xung quanh cuốn thiểu thuyết HỘI THỀ của nhà văn Nguyễn Quang Thân được trao giải với giải thưởng cao nhất gần đây như một sự kiện văn học diễn ra sôi động nhiều bài viết đã liên tiếp nêu lên những bức xúc của dư luận.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Từ Quốc Hoài trong hàng loạt bài viết phê phán đăng tải trên các mạng văn chương và báo chí.

KINH NGẠC KHI HỘI NHÀ VĂN

TÔN VINH CUỐN TIỂU THUYẾT HỘI THỀ

 

alt src=http://camphuong.vnweblogs.com/gallery/10111/previews-med/TUQUOCHAI.jpg

Nhà văn Từ Quốc Hoài

 

 

  ... Cũng đã có những lời nhằm vào một số bài viết phê phán tiểu tuyết Hội Thề và việc lãnh đạo Hội Nhà văn tôn vinh Hội Thề cho rằng trong giới với nhau sao lại đi vạch áo cho người xem lưng. Thiết nghĩ là nhà văn chân chính thì trước hết phải có cái tâm sáng. Mà tâm đã sáng thì cái lưng sẽ không che chắn những cái hắc ám. Có gì mà phải sợ khi người ngoài nhìn vào cái lưng lương thiện đáng tin cậy của nhà văn....  

 Mới đây tại đại hội Chi hội Nhà văn Việt Nam tp. Hồ Chí Minh (3/3/2011) tôi có dịp được nghe nhà thơ Hửu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Chủ tịch Hội đồng chung khảo cuộc thi tiểu thuyết 2006-2010 nói về những lý do Hội đồng chung khảo tôn vinh cuốn tiểu thuyết Hội Thề của nhà văn Nguyễn Quang Thân với giải thưởng cao nhất (vượt lên trên 247 tác phẩm dự thi 51 tác phẩm vào chung khảo) Cùng nghe với tôi hôm đó còn có nhà văn Triệu Xuân nhà văn Đặng Hấn nhà thơ Ngyễn Vũ Tiềm…
        
Lập luận của Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Chủ tịch Hội đồng chung khảo có thể tóm tắt như sau:

1. Tiểu thuyết Hội Thề viết về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã gửi đến độc giả Thông điệp lấy nhân nghĩa thắng hung tàn dùng hòa hiếu vãn hồi hòa bình giành lại non sông tránh được binh đao đổ máu.
2. Tiểu thuyết Hội Thề có những đóng góp vào cách miêu tả nhân vật không một chiều cứ phản diện là xấu hết chính diện là tốt hết.
3. Tiểu thuyết Hội Thề đã nêu được vai trò trí thức và thái độ đối với trí thức một vấn đề thời sự đối với xã hội Phương Đông.
 

         
Nội dung này cũng được tác giả Nguyễn Hửu (một bút danh khác của nhà thơ Hửu Thỉnh) thể hiện trong bài tổng kết cuộc thi tiểu thuyết vừa qua của Hội Nhà văn Việt Nam đăng trên tạp chí Nhà Văn số 2/2011. Để hiểu rõ giá trị của cuốn tiểu thuyết được tôn vinh tôi đã tìm đọc Hội Thề một cuốn sách được nhà sách Thăng Long xếp vào loại “ế” bày bán ở quầy sách giảm giá 40%.
               
Sau khi đọc cuốn tiểu thuyết Hội Thề tôi thấy cần trao đổi một số ý kiến đổi với những luận điểm được Hội đồng chung khảo căn cứ để tôn vinh cuốn tiểu thuyết lịch sử này.

  1. HỘi THỀ là một thông điệp của nhà văn Nguyễn Quang Thân hay nhà văn chỉ là người góp phần truyền đạt lại thông điệp hùng hồn sáng tỏ đã tồn tại trên 500 năm trong lịch sử của dân tộc? Đây là điểm xuất phát rất quan trọng. Nếu nhà văn Nguyễn Quang Thân là người đầu tiên có công phát hiện và bằng tài năng của mình thông qua tác phẩm văn học gửi đến độc giả thông điệp này thì ông và Ban Chung khảo của Hội Nhà văn Việt Nam có công lớn. 
              
    Thực tế không phải vậy. Với công nghệ hiện đại hiện nay chỉ cần gõ nhẹ vào bàn phím máy vi tính nối mạng những tư liệu gốc về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hiện ra trong nháy mắt. Cẩn trọng hơn có thể tham khảo thêm một vài cuốn chính sử phần nói về khởi nghĩa Lam Sơn. Vai trò lịch sử vĩ đại của Lê Lợi Nguyễn Trãi khí thế hào sảng của nghĩa quân: gươm mài đá đá núi cũng mòn voi uống nước nước sông phải cạn những trận thắng oanh liệt lừng lẫy: “ Đánh một trận sạch không kinh ngạc…” của nghĩa quân từ Bồ Đằng Trà Lân Ninh Kiều Tốt Động - Chúc Động tới Chi Lăng - Xương Giang…hàng chục vạn quân Minh phơi thây hàng vạn tướng sĩ giặc  bị bắt làm tù binh là tiền đề để có Hội Thề Đông Quan ngày 10/12/1427 – thực chất là một nghi thức tiếp nhận sự giải giáp đầu hàng của quân Minh một lễ hội của quân dân Đại Việt mừng chiến thắng. 
                
    Không cần có tiểu thuyết Hội Thề của nhà văn Nguyễn Quang Thân thì đã có thông điệp: Lấy chính nghĩa thắng hung tàn dùng hòa hiếu vãn hồi hòa bình thu non sông về một mối… Thông điệp đó được viết nên bằng máu của biết bao nghĩa quân bằng những áng văn hùng hồn đanh thép: những bức thư chiêu dụ quân Minh đầu hàng Bình Ngô Đại Cáo và cả chương trình lịch sử trong sách giáo khoa truyền dạy cho học sinh từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bản thân nhà văn Nguyễn Quang Thân và Ban Chung khảo chắc cũng đã được truyền dạy thông điệp này từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Vậy phần đóng góp của tiểu thuyết Hội Thề nếu có là gì? Ấy là góp phần làm sáng tỏ sinh động hơn thông điệp nói trên.
                 
    Cuốn tiểu  thuyết dày trên 300 trang của của nhà văn Nguyễn Quang Thân đã không có một sử liệu hoặc kiến giải nào mới mẻ sâu sắc hơn chính sử. Cũng
    không sáng tạo ra được hình tượng tiêu biểu nào của các nghĩa quân vốn là những nông dân chân đất vì nghĩa lớn mà theo Bình Định vương Lê Lợi cứu nước. Họ vừa là những cá thể bé nhỏ vừa là cái nền vĩ đại tạo nên sức mạnh của dân tộc. Trong họ tiềm ẩn những chân lý lớn lao của đời sống. 
                 
    Như vậy cuốn tiểu thuyết Hội Thề đã không đóng góp gì vào việc làm sáng tỏ hơn sinh động hơn thông điệp lớn lao đã có sẵn trong lịch sử. 
                  
                 
    2.  Với tiểu thuyết Hội Thề lịch sử đã được viết khác đi. Dưới ngòi bút của Nguyễn Quang Thân Lê Lợi vị minh chủ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vị anh hùng dân tộc đã hiện ra như một kẻ háo sắc cuồng dâm thô lổ cả trong ăn uống. Hãy xem nhà văn này miêu tả Lê Lợi: Có một lần trong cái lều bếp dã chiến…ông đói cồn cào chạy vô bếp kiếm một miếng cơm cháy. Trong một khắc ông không còn là minh chủ…làm vội làm vàng (giao cấu với người đàn bà nấu bếp của nghĩa quân) sợ mấy thằng thị vệ nhìn thấy nhanh như một con gà trống (tr. 12) Hoặc: Lê Lợi nhìn bà đại học sĩ (Nguyễn Thị Lộ) giống như khi ông muốn xé một con gà luộc…Thị Lộ bày đĩa bánh chưng rán lên án thư. Bình Định vương vồ lấy đôi đũa trên tay bà gắp bánh. Nhưng ông vụng về miếng bánh rơi xuống sàn gỗ. Ông cáu tiết vứt đũa lấy tay nhón bánh ăn ngấu nghiến (tr. 12)
                
    Ở một trang khác vị minh quân Lê Lợi được bộc lộ qua qua ý nghĩ của con trai là Lê Tư Tề: Vua cha…đâu có thì giờ tĩnh tâm phân biệt chính tà (tr. 194)
                
    Bình Ngô Đại Cáo một văn bản gốc của chính sử nói về nghĩa quân Lam Sơn: Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới. Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngot ngào. Tiểu thuyết Hội Thề đã tùy tiện cường điệu mâu thuẩn trong hàng ngũ nghĩa quân tới mức các nhân vật có học thức từ Thăng Long vào tham gia nghĩa quân đều bị các viên tướng phái võ biền khinh miệt kẻ thì bị coi là cục phân chó như Trần Nguyên Hãn kẻ thì bị coi không bằng cục phân. (tr.171) Dưới ngòi bút của nhà văn Nguyễn Quang Thân sự đố kỵ trong hàng ngủ nghĩa quân làm cho nhan nhản các trang sách bốc mùi phân. Bản thân Nguyễn Trãi cũng bị coi khinh mỗi khi ông vâng mệnh Lê Lợi đọc thơ thì họ quay mặt nhiều lần nhổ nước bọt (trang 29). Nguyễn Trãi trong ý nghĩ của Lê Lợi: Bọn Sát Ngân thù ghét miệt thị Trãi Hãn ra mặt… Nhà văn đẩy Nguyễn Trãi một anh hùng kiệt xuất vào thế cô độc chỉ trang trải lòng mình được với Thái Phúc một viên bại tướng đã đầu hàng nghĩa quân: “Xin đại huynh nhận cho Trãi này ba vái: Một vái để tạ lòng nhân của đại huynh…Còn vái này là tạ công lớn của đại huynh với nghĩa quân… vái này nữa để ghi nhận tình tri kỷ của đại nhân với đứa em côi cút là Trãi này…” Một Nguyễn Trãi uy nghi tác giả bản thiên cổ hùng văn Bình Ngô Đại Cáo như có thép mang hào khí của cả dân tộc thắng giặc ngoại xâm sao có thể tự nhận mình là đứa em côi cút  trước viên hàng tướng Thái Phúc khi y dời gót theo đội quân xâm lược bị giải giáp rút vế nước.

    Qua việc nhà văn Nguyễn Quang Thân gán cho Nguyễn Trãi xin Thái Phúc nhận ba vái như trình bày ở trên có thể thấy tướng giặc được đề cao như thế nào. Tác giả Hội Thề còn cho Thái Phúc ba hoa với Nguyễn Trãi rằng khi áp tải đoàn tù nhân nhà Hồ trong đó có Nguyễn Phi Khanh thân phụ Nguyễn Trãi y đã dành cho Nguyễn Phi Khanh một con ngựa để cưỡi cho đỡ mệt trong khi cả đoàn tù nhà Hồ mới đi vài trăm dặm đã chết hơn một nửa vì đói cơm khát nước bệnh tật và nhục hình… Y còn ba hoa: Mười năm đánh nhau hết Thanh Hóa đến Nghệ An đệ không hề biết mùi đàn bà…Kẻ làm tướng có thể cướp một thành diệt một nước nhưng không được o  ép liễu yếu đào tơ…(tr. 23)

    Trong chính sử sự thật về viên hàng tướng Thái Phúc như thế nào: Suốt hàng chục năm là người bảo vệ nền thống trị hà khắc của nhà Minh tại xứ Giao Chỉ (nhà Minh đã xóa hẵn tên nước Đại Việt) viên tướng Thái Phúc nếu thực lòng trọng chính nghĩa thì y đã qui hàng nghĩa quân từ lâu rồi. Thái Phúc cùng với Lý An Phương Chính là ba viên tướng chủ chốt giữ thành Nghệ An nổi tiếng tàn bạo. Năm 1425 trong bối cảnh hầu như toàn bộ tỉnh Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh ngày nay) nằm trong tay nghĩa quân Lam Sơn giặc Minh co cụm cố giữ hai thành còn lại là Diễn Châu và Nghệ An thì Thái Phúc vẫn ngoan cố cùng với Lý An Phương Chính… cố thủ trong thành dù lúc này đã có một số viên tướng như Cầm Bành chỉ huy đồn Trà Lân đầu hàng nghĩa quân Lam Sơn.
                
    Cuối năm 1426 thành Đông Quan bị Nghĩa quân uy hiếp nặng viên tướng Minh chỉ huy là Trần Trí bí mật truyền lệnh cho Lý An Phương Chính ngày 17/10/1426 theo đường thủy chuyển hầu hết quân trong thành Nghệ An ra Đông Quan giao Thái Phúc cùng với một ít quân cố thủ giữ thành. Cũng vào thời diểm này trong cảnh thế cô sức kiệt Thái Phúc mới chịu hàng nghĩa quân chứ không phải vì trọng chính nghĩa. Đáng lưu ý là tác giả Hội Thề đã chủ tâm viết khá mập mờ sự kiện này: Thái Phúc có công mở cửa dâng thảnh Nghệ An cho Chúa công…mà không nói tới tình cảnh thảm hại thế cô lực kiệt…buộc tướng giặc Minh phải chọn con đường sống là đầu hàng. (Có tài liệu cho rằng ngay sau khi Lý An Phương Chính chuyển hầu hết quân đồn trú thành Nghệ An ra Đông Quan  nghĩa quân Lam Sơn dưới sự chỉ huy của các tướng Lê Ngân Lê Văn Linh Nguyễn Thận…đã công thành Nghệ An. Biết không chống nổi nghĩa quân Thái Phúc qui hàng. Tướng Nguyễn Thận là người trực tiếp nhận sự đầu hàng của Thái Phúc) Như vậy Thái Phúc dù hàng theo cách nào thì cũng không phải vì trọng chính nghĩa mà vì đường cùng tham sống sợ chết. Sau khi đầu hàng nghĩa quân Thái Phúc được Lê Lợi giao cho mang thư Nguyễn Trãi dụ hàng quân Minh ở thành Xương Giang. Hai lần Thái Phúc đi dụ hàng không xong. Lê Lợi đốc quân tấn công diệt và bắt sống toàn bộ quân sĩ trong thành. Trong Hội Thề sự kiện này không được nhắc tới. Tác giả Hội Thề cho viên hàng tướng Thái Phúc lập công lớn trong sự kiện cùng với Nguyễn Trãi đi dụ hàng tướng giặc Mộc Thạnh tại ải Lê Hoa mà độc giả bắt gặp ở phần đầu cuốn tiểu thuyết. Dưới ngòi bút của tác giả Hội Thề chỉ với bức thư của Nguyễn Trãi và ba tấc lưỡi của Thái Phúc đã đẩy lui 5 vạn quân giặc ra khỏi bờ cõi quân ta truy kích diệt và bắt sống trên một vạn tên. Chính sử chép về sự kiện này như sau: Sau chiến thắng Chi Lăng Lê Lợi sai một tên chỉ huy ba tên thiên hộ bắt được trong đạo quân Liễu Thăng mang sắc thư ấn tín của Liễu Thăng (đã mất mạng) cùng bức thư của Nguyễn Trãi chuyển cho Mộc Thạnh. Đọc thư lại tận mắt nhìn thấy những chứng tích thảm bại của Liễu Thăng tướng giặc vô cùng khiếp sợ. Đang đêm Mộc Thạnh vội vàng đem quân tháo chạy. Quân ta truy kích diệt hơn một vạn tên bắt sống hơn 1000 tên. Không hề có bóng dáng hàng tướng Thái Phúc trong trận thắng vang dội này. 
             
    Tại sao tác giả Hội Thề lại cố ý đánh tráo lịch sử lấy công của người khác gán cho viên hàng tướng Thái Phúc? Phải chăng có tô vẻ Thái Phúc thì viên hàng  tướng mới đủ cái tầm để nhà văn Nguyễn Quang Thân có thể cho một người vĩ đại như Nguyễn Trãi hạ mình nhận là đứa em côi cút  trước viên hàng tướng nhà Minh mà không cảm thấy bị sỉ nhục. Thậm chí vì cái tầm này mà tác giả Hội Thề còn có cớ đặt vào miệng của Lê Lợi lời vàng dành cho Thái Phúc: Ông là bằng hửu của ta và Đại Việt ta…
                
    Cũng với thủ pháp tô vẽ tướng giặc tác giả Hội Thề đã cho Vương Thông một viên tướng tàn bạo dâm đãng từng cho lính đi lùng gái đẹp đưa về làm nô lệ tình dục cho y có cử chỉ thật lạ thường buộc hàng trăm binh sĩ phải bỏ mạng mở đường máu đưa một cô gái từng làm nô lệ tình dục cho y được trả về với gia đình vì lo cho cô  bơ vơ khi đám quân Minh bị giải giáp rút khỏi kinh thành Đông Quan. Tác giả Hội Thề còn cho từ miệng tướng giặc Vương Thông nói ra là y coi Nguyễn Trãi như bằng hữu… Phải chăng lối viết bịa tạc bôi xấu Lê Lợi Nguyễn Trãi… những vị anh hùng dân tộc đã đưa đất nước ta thoát khỏi hiểm họa bị xóa sổ biến thành Quận Giao Chỉ của nhà Minh cùng với việc tô vẽ tướng giặc…thể hiện trong Hội Thề là đóng góp của nhà văn Nguyễn Quang Thân vào việc xây dựng các nhân vật chính diện và phản diện không đơn điệu một chiều?
                
    Trong bài tổng kết cuộc thi tiểu thuyết 2006-2010 của Hội Nhà văn tác giả Nguyễn Hửu (một bút danh khác của Hửu Thỉnh) đã khen là dưới ngòi bút của Nguyễn Quang Thân lịch sử đã được làm mới lại để trở thành lịch sử của ngày hôm nay. Xin thưa hậu thế chỉ có thể soi rọi cái nhìn mới vào lịch sử để hiểu rõ hơn chính xác hơn những góc khuất bị thời gian và nhiều lí do khác che phủ chứ lịch sử vốn là những gì đã xảy ra gương mặt của nó đã định dạng không ai có thể thay đổi lại càng không có quyền làm mới theo cách bịa tạc bôi nhọ. 
         
    3.  Cũng cần nói thêm về một vấn đề được Chủ tịch Hội Nhà văn ghi công cho  tiểu thuyết Hội Thề. Theo ông tiểu thuyết Hội Thề đã nêu được vấn đề vai trò của trí thức thái độ đối với trí thức một vấn đề thời sự đối với xã hội phương Đông. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn diễn ra cách đây hơn năm trăm năm vốn là cuộc khởi nghĩa của nông dân nhưng vì mục đích giải phóng dân tộc nên đã nhanh chóng tập họp được cả những trí thức ưu tú trong lực lượng của mình. Trong Bình Ngô Đại Cáo bản hùng văn do Nguyễn Trãi một nhân vật lỗi lạc của nghĩa quân viết được công bố sau ngày toàn thắng giặc Minh (1428) lực lượng nghĩa quân được mô tả: nhân dân bốn cõi một nhà; tướng sĩ một lòng phụ tử; đem đại nghĩa thắng hung tàn… Tư liệu này chắc chắn phải đáng tin cậy hơn những gì tác giả Hội Thề viết theo tưởng tượng tướng Lam Sơn thì phải vô học phải tị hiềm với trí thức những người mà trong mắt các tướng võ biền của nghĩa quân chỉ là cục phân thậm chí không bằng cục phân. 
                 
    Sự thật là sau khi Lê Lợi giành lại được độc lập hoàn toàn cho non sông chính thức lên ngôi Hoàng đế - tức Lê Thái Tổ (29/4/1428) khôi phục tên nước Đại Việt bên cạnh việc cũng cố triều đình phong kiến những cuộc tranh giành quyền lực đã bắt đầu xuất hiện và ngày một quyết liệt. Mở đầu là cái chết của Trần Nguyên Hãn bị triều đình nghi là mưu phản vì muốn lập Tư Tề là con trưởng (con hoàng hậu Ngọc Lữ) làm Thái Tử trong khi một số tướng khác như Phạm Vấn Lê Sát…muốn tôn Nguyên Long là con thứ (con hoàng hậu Ngọc Trần) Trần Nguyên Hãn trên đường về kinh theo lệnh vua đã nhảy xuống sông tự vẫn. Tiếp theo cái chết của Trần Nguyên Hãn là cái chết các công thần Phạm Văn Xảo Nguyễn Trãi Lê Ngân Lê Sát Trịnh Khả Trinh Khắc Phục… tất cả đều dính dáng tới cuộc tranh giành quyền lực trong Triều đình kẻ thì chủ mưu người thì bị vu oan tuyệt nhiên không hề có vấn đề trí thức ở đây. Đấy là sự thật lịch sử. Chính sử ghi lại giấy trắng mực đen rõ ràng tên tuổi ngày tháng nguyên do cái chết. 
                 
    Nếu không tin các vị trong Ban Chung khảo mở sách sử ra mà xem. Chẳng lẽ chính sử của một nước đã tồn tại và được cả dân tộc trân trọng gìn giữ qua hàng bao thế kỷ lại không đáng tin cậy bằng những trang viết tùy tiện của một cây bút hậu thế ra đời sau những sự kiện lịch sử trên 500 năm?
  2. Cũng đã có những lời nhằm vào một số bài viết phê phán tiểu tuyết Hội Thề và việc lãnh đạo Hội Nhà văn tôn vinh Hội Thề cho rằng trong giới với nhau sao lại đi vạch áo cho người xem lưng. Thiết nghĩ là nhà văn chân chính thì trước hết phải có cái tâm sáng. Mà tâm đã sáng thì cái lưng sẽ không che chắn những cái hắc ám. Có gì mà phải sợ khi người ngoài nhìn vào cái lưng lương thiện đáng tin cậy của nhà văn. Lãnh đạo Hội Nhà văn nhân danh gần một nghìn hội viên để tôn vinh tiểu thuyết Hội Thề. Vậy thì các hội viên có quyền nói lên chính kiến của mình một cách thiện chí khách quan. Tiền thưởng tặng cho tiểu thuyết Hội Thề là tiền thuế của dân chứ đâu phải tiền riêng của Ban Chung khảo. Liệu người dân có hài lòng khi biết tiền mồ hôi nước mắt của họ được đem trao cho một cuốn sách bôi nhọ những vị anh hùng luôn là niềm tự hào của họ?
  3. Đối với nhà văn sự sáng tạo luôn được khuyến khích vì nói cho cùng không có sự sáng tạo thì cũng không có tác phẩm văn học. Nhưng sự sáng tạo của tác giả Hội Thề được đề cập trên đây thì quả là nó đã vượt qua khái niệm sáng tạo văn học để làm nổi cộm một khái niệm khác đó là đạo đức trách nhiệm công dân của nhà văn với lịch sử với những vị anh hùng dựng nước và giữ nước trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Ngày nay bờ cõi đất nước đâu đã yên máu Việt Nam  còn đổ dân Việt Nvẫn còn bị nước ngoài ngang nhiên ức hiếp . 
                 
    Thật kinh ngạc khi Lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam đã tôn vinh một tác phẩm với nhiều vết bôi nhọ lịch sử và những vị anh hùng dân tộc như Hội Thề.
                             3/2011 Tp. Hồ Chí Minh

 NGUỒN: trannhuong.com

 

More...

DAY DỨT

By DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI

DAY DỨT

(NHÂN NGÀY 8-3-2011)

 alt

Mẹ có thể
Gánh cho ta nhọc nhằn cơn sóng vỗ
Phía trời xa
mùa gặt gọi chim về
Hoàng hôn buông
nhịp võng gọi hồn quê
Đêm đông giá
Người đốt lên bếp lửa
hóa giải những cơn mê!

Anh có thể
Mang cho em hạt giống nhỏ
Để lại mùa màng
ngân giọt phù sa
Dưới trăng khuya đem về ngọn gió
tiếng con dế rung reng trẻ thơ
long lanh lá cỏ
Trái tim hồng nằm thở dưới hoa
dạo khúc mở đầu bản tình ca Hạnh phúc!

Nhưng có một điều đáng tiếc nhất
ta không thể đem muôn sắc phù sa
lấp đầy lại vết rạn chân chim
trên khóe mắt Mẹ.
Và không thể
khép lại cánh cửa em mở ra trên ngực
ngày đón bàn tay mở khóa
dẫu bàn tay ấy là của Thảo dân hay của Thánh thần !
Nghìn bông hồng đầy hương
Nghìn câu thơ xanh viết trên màu lá
cũng trở nên vô vị
trước biển khơi!

 6-3-2011

More...